Người Việt Next

Northwest Vietnamese News presents Người Việt Next, its English-language series dedicated to highlighting issues and stories important to the local Vietnamese community. If you have any story ideas or would like to submit a story or photographs, please email: news@nvnorthwest.com or call 206-723-4666.

Trang của thế hệ tiếp nối, nhân vật trẻ, và những phát biểu của thế hệ tiếp nối.

“Gentlemen Callers” show- 4-25-2014 at “Super Bowl Pho-Everett”: Good music & good Phở, Skewered Grilled… and more
Tuesday, November 30th, 1999

Super Bowl Pho- Everett www.superbowlphoEverett.com
3121 Broadway Everett, WA 98201 (Exit 192 from I- 5)
Open Sun- Thurs: 11am- Midnight
Fri- Sat: 11am- 1am next day
(capacity: 350)

Coming: April- 25- 2014
Four Men Three Guitars and a Drum Set Filled with Furry April- 25-2014 – Super Bowl Pho 3121 Broadway Everett WA 98201 (exit 192- from I-5)

Gentlemen Callers

Artist: The Gentlemen Callers
Four Men: Three Guitars and a Drum
Set Filled with Furry Show: 
April- 25-2014 – Super Bowl Pho 3121 Broadway
Everett WA 98201
(exit 192- from I-5) Ask: Van Ho- Manager-(425) 789-1100 * www.superbowlphoEverett.com
Friday & Saturday open until 1am

[gallery ids="7174,7175,7176,7177,7178"]

If I were to delve back into music history, it would be pretty safe to say that no live concert has ever been preceded by a screening of fairytale movie ever after. One of the stranger interludes I’ve seen, Green for the Pink’s 8 stellar acts were divided by a film that is far from Drew Barrymore’s finest.
And it would also be pretty safe to say that the The Gentlemen Callers must have had a few sweaty palms knowing that they were opening to a crowd trapped in a romcom-induced stupor.
It’s a lucky thing then that the Callers were the perfect wake-up call.
The crowd were soon snapped wide-awake by vocalist Shaun Cawston’s soaring vocals, backed perfectly by Les Milne’s deep-bass lines. It wasn’t long before the popcorn was ditched and the crowd was eating out of the Callers’ now not-so nervous hands.
The band clearly see punk and stadium rock as their calling, best heard on ‘A Girl Called Radio’, however a little taste of surf-rock, which had the crowd rocking out like it was new years eve 1959, and a killer wah-wah guitar solo in ‘Shop-On’, straight out of a 70′s funk track, were great touches, showing the band’s depth and their knack for reading a crowd.
A few technical hitches aside, the band were polished, prepped and ready to rock. The generous banter between songs and liberal doses of rock-n-roll showmanship from drummer Dan Hearn showed that these guys know how to put on a show. Let’s just hope they get a better warm-up act next time.

Ca sĩ DJ Phương Trang – hiện tượng văn nghệ mới ở Caesars Circus Maximus Theater ở Atlantic City
Friday, April 11th, 2014


Người Việt Ðông Bắc

Nghệ thuật trình diễn sân khấu ca nhạc ở vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ gần đây có nhiều khởi sắc thuộc tính công nghệ trình diễn chuyên nghiệp.

Dưới những hướng đi đã có sẵn của kỹ thuật sân khấu ở Caesars Circus Maximus Theater ở Atlantic City cùng với sự nhạy bén hiển nhiên của thị trường ca nhạc Hoa Kỳ, ca sĩ Việt Nam bắt đầu có những live show đại nhạc hội riêng và đóng vai trò chủ diễn của mình một cách đầy tự tin. Ðã qua rồi, thời hàng loạt ca sĩ Việt Nam cố xếp đồng hạng trước sau lần lượt trên một sân khấu.

 

Ca sĩ DJ Phương Trang, người làm thay đổi cục diện trình diễn sân khấu dạ vũ ở Atlantic City.

 

Với những người có kinh nghiệm tổ chức chương trình chuyên nghiệp, sự dàn dựng cho một ca sĩ làm đề tài chủ diễn đại nhạc hội sẽ tạo nên những chương trình rất ấn tượng mang tính chủ đề dựa vào sự nghiệp và tài năng cá nhân.

Bà Liên Phạm, bầu show ở Atlantic City từng than thở rằng, giới nghệ sĩ Việt Nam thường không có những thứ hạng đại minh tinh như kiểu Hồng Kông, Ðài Loan, Hàn Quốc, thậm chí là Philippines để chủ diễn một chương trình. Nhưng về mặt khách quan, đó chính là thói quen văn hóa tổ chức theo kiểu dàn trải của bầu show Việt Nam trong quá khứ, không tạo điều kiện cho một ca sĩ làm ngôi sao trung điểm.

Củng cố cho hướng mới đi này, một tên tuổi mới nhưng đang làm nên hiện tượng kỳ lạ khiến giới làm show ca nhạc thay đổi nhận thức. Nữ ca sĩ trẻ Phương Trang có tay nghề làm DJ đã làm thay đổi cục diện trình diễn của các đêm dạ vũ. Chỉ cần một nhân vật chủ diễn có tài năng là kiểm soát được thị hiếu và sự náo nhiệt phía khán giả, đêm dạ vũ sẽ biến thành một trải nghiệm đầy ấn tượng.

Theo ông Ricky Hoàng, người đã tổ chức hàng loạt chương trình cho cả khán giả người Hoa và người Việt “show Việt Nam không có nhân vật mũi nhọn cho nên rất khó quảng bá, mỗi lần làm show là phải loay hoay chọn chủ đề, trong lúc show Tàu, ca sĩ nổi tiếng chính là chủ đề áp đảo toàn diện.”

Nhắc tới Phương Trang, ông Ricky cho biết khi xem xong show người ta chỉ còn lại ấn tượng tuyệt vời vì tay nghề DJ phái nữ thật là có một không hai. Nghệ nhân DJ ở Việt Nam rất hiếm và không được đánh giá đúng mức về nghệ sĩ tính. Ngoài ra dòng nhạc Việt để chơi DJ hầu như không tồn tại trong nhạc ngữ Việt Nam. Do đó, lại càng rất khó thấy cảnh khán giả Việt Nam hát theo DJ bằng Anh ngữ vì sự hứng khởi này đòi hỏi vốn sinh trưởng trong dòng nhạc Mỹ từ rất nhỏ mới theo kịp nhịp điệu.

 



Chương Trình Live Show Caesars Circus Maximus Theater đang được quảng cáo rầm rộ qua hệ thống Google Ads và tự động rơi tự động vào trang website Người Việt. Website Người Việt được xem là những những trang tiếng Việt có tần suất khoảng 2 triệu lượt người mỗi tháng.

 

Ðể bù vào khoảng trống về ca từ này, DJ Phương Trang biến tấu và sáng tác ca từ sẵn có trong thi ca, ca từ Việt Nam sẵn có để khán giả tham gia vào với sự nhiệt náo mang tính bất ngờ. Với ưu thế ngoại hình và nghệ thuật trình diễn, JD Phương Trang có thể vừa đánh, vừa hát, vừa nhảy, lại vừa điều chỉnh hợp âm linh hoạt. Hiện nay trên thị trường âm nhạc chưa có nữ ca sĩ nào làm được điều này.

Anh Cường La, thuộc công ty Global Entertainment & Marketing Planners (GEM) phụ trách các chương trình dạ vũ ở Atlantic City nói rằng DJ Phương Trang là một giải pháp tuyệt vời vì công ty GEM không cần phải dàn xếp chương trình, phụ thuộc nhiều vào sự sắp xếp “hát chính và hát lót” rất phức tạp… Anh tự tin “chỉ có một mình Phương Trang, là mọi người có ngay đêm vũ hội như ý, thu hút khán giả từ đầu đến cuối.”

Anh Cường La còn cho biết, “Cũng theo định hướng này, về mặt sân khấu đại nhạc hội, Caesars Circus Maximus Theater sẽ chú trọng vào cá nhân chủ diễn bên cạnh sự góp mặt của các ca sĩ nổi tiếng phối hợp tạo danh tiếng cho chương trình.”

Những người tham tổ chức chương trình như Ricky Hoàng của Caesars Entertainment còn cho biết ông sẽ phối hợp để đưa các ca sĩ trong các chương trình “live show” trở thành hình ảnh minh tinh như cách Hồng Kông, Hàn Quốc,… vẫn làm và họ đã rất thành công.
Ca sĩ chủ diễn
Có lẽ lúc này khi mọi người bật máy tính lên thì sẽ thấy những những mẫu quảng cáo “live show” rất hoa mỹ, đầy màu sắc tạo nên những hình ảnh chủ đạo cho những ca sĩ như Lệ Quyên, Hồng Ngọc,… qua hệ thống Google Ads.

 



Live show của Hồng Ngọc là bước trải nghiệm cho hàng loạt live show tại Caesars Circus Maximus Theater trong năm 2014.

 

Cả hai ông Ricky Hoàng và Cường La cũng đều nhận xét rằng cách dàn dựng “đông mặt nghệ sĩ” trước đây tạo sự giới hạn cho kế hoạch quảng cáo tiếp thị. Chưa nói đến thực tế thế hệ “Nhạc Tour” khiêu vũ kiểu Việt Nam không còn thịnh hành cho nên nhiều lúc sân khấu, khán giả và các ca sĩ cho nên nhiều lúc có bố cục rời rạc và nhàn nhạt như nhau. Cũng có trường hợp nhiều tên tuổi lớn trong làng giải trí Việt Nam xuất hiện cùng một sân khấu mà không có sự dàn dựng hợp lý khiến cho toàn bộ chương trình đều bị “tỏa mờ” như không có tên tuổi.

Trong năm 2014, sân khấu ca nhạc ở Caesars Circus Maximus Theater sẽ không còn có những quảng cáo poster với những khuôn mặt ca sĩ Việt Nam chen kín lên nhau mà họ sẽ chú trọng tuyển lựa vào một số “ca sĩ nhân vật” làm đề tài chủ diễn. Ðiều này rất thích hợp cho việc in hình ca sĩ lên các billboard điện tử trên xa lộ.

Chương trình “My Life in US” của Hồng Ngọc hiện nay là bước thử nghiệm, tiếp theo sau là Live Show của Lệ Quyên sẽ được đầu tư lưu diễn.

Thật vậy, sau hàng năm va chạm với làng giải trí quốc tế, các bầu show nhận ra cách tổ chức chương trình “đồng hạng” là một sự lãng phí lớn. Khi các show nước ngoài, luôn có nghệ sĩ chủ diễn, những poster quảng cáo đứng cách xa hàng chục hàng trăm mét, vẫn thấy được thần thái, phong cách, tên tuổi… Show Việt Nam quá nhiều ca sĩ “bằng mặt” cho nên không biết làm sao gọi tên để quảng cáo trên các Billboard xa lộ. Ðây chính là thực tế thúc ép giới bầu show Việt Nam ở Hoa Kỳ phải thay đổi khi hợp tác với sân khấu lớn ở Mỹ.

Hai hiện tượng, một bản chất; ở sân khấu dạ vũ vốn rất thịnh hành trong sinh hoạt văn nghệ Việt Nam cũng sẽ có sự thay đổi. DJ kiêm ca sĩ Phương Trang được GEM tuyển chọn như là bước trải nghiệm.

“Không có gì hợp lý và chính đáng hơn khi chỉ cần một tên tuổi nổi bật có thể thu hút được khán giả.” ông Rick Hoàng nhận xét.

Những chương trình dạ vũ của DJ Phương Trang đặc kín vì chính cô đang được đầu tư để trở thành nhân vật chủ diễn thu hút khán giả. Ngoài ra vấn đề lợi ích kinh doanh âm nhạc, đơn giản là khi một nghệ sĩ có sức hấp dẫn một số lượng khán bằng năm tên tuổi khác cộng lại. Người ta sẽ chọn sự đơn giản nhất để đầu tư.

(Trần Đông Đức)

Vinasource; Vietnamese based developers could produce your next, favorite application
Friday, April 11th, 2014

Benjamin Liu (left), and David Hajdu :

Co-founder of Vinasource

 

by: Jammy Phan Hoàng

University of Washington
Michael G Foster School of Business (class of 2014)

 

“From selling pho to clothing on the streets, everyone wants to be a business owner in Vietnam,” says David Hajdu, co-founder of Vinasouce, a company that takes advantage of this entrepreneurial mindset. Vinasource is a software application development firm headquartered in Kirkland, Washington that employs program developers in Vietnam. They help business owners realize their tech vision from idea stage to a working application. Its international business success has positioned it to become the next up and coming software development firm in Washington.

2007 Vietnam Decision: Opportunities and Challenges
The Vietnamese technology industry presented many attractive business opportunities when Vinasource was founded in 2007 by Hajdu and his partner, Benjamin Liu. Hajdu had worked in business and technology for the last fifteen years, while Liu had more than ten years of software development experience. They concluded operating in Vietnam was lower risk and potentially higher reward compared to other countries. Hajdu remembers, “At the time, there was a lot of good press about the tech talent developing in Vietnam.” So, they teamed up to start Vinasouce in Vietnam due to previous experience there as well as its emerging tech industry. Hajdu managed the team in Vietnam and Liu in the United States, a primary objective being to solve many companies’ dissatisfaction with their prior outsourcing experience.
Still, the technology industry in Vietnam presented multiple challenges. Its technology talent was not up to international software development standards when Vinasource first entered the field in 2007. Hajdu recalls, “One of the biggest challenges back then was for software development firms, like Vinasource, to find quality labor.” The available workforce at the time was considered ‘subpar’ by today’s standards of technology and website development. This contributed to overseas outsourcing projects having a negative perception. Hajdu remembers them being seen as “a black hole of problems due to language and cultural barriers, difference in time zone, poor quality, and missed deadlines.”
Enter Vinasource. It benefited from larger companies’ investing in Vietnam’s tech industry, which drastically improved the quality of its labor. Hajdu points out, “since the larger companies invested in employee training, smaller firms no longer had to devote so many of their limited resources on training.” As for the negative perceptions of inferior, overseas work, Vinasource took this approach. It used a U.S.-based program manager coupled with a Vietnamese program manager and developers. And it only accepted clients willing to work with that model. A Vinasource client, James Sun, CEO of Pirq, said he decided to use Vinasource because it “has a unique, hybrid model of using US based project managers with overseas developers. This combo really makes the project smooth. It’s a win/win approach with easy communication yet cost effective use of development resources.” Although the stateside program managers added to the expenses of the projects, they often helped ease the application development process by acting as intermediary between clients and developers. This improved the overall communication, final product, and business, as satisfied clients returned to Vinasource for future projects. Vinasource’s effectiveness in solving these challenges helped it become a profitable, outsourcing software development company.

Present Day: Success and Business Lessons Learned
Today, a growing client base is one of the leading factors contributing to Vinasource’s ongoing success. Hajdu says it’s grown ‘organically’ through satisfied customers and has contributed to how “the company has grown consistently 50 percent year over year and is on track to receive over $2M in revenue this year.” Another plus. Instead of depending on a sales team, Hajdu notes “most of Vinasource’s new business comes through referrals from within Washington’s entrepreneurial network.” Here’s an example of this organic growth. Andrew Okada, founding member of Asiancooknotes.com, says he decided to use Vinasource because:

“First, Vinasource has the technical capability and know how to do pretty much anything you see on the web and mobile devices. Second, the cost of working with Vinasource was less than hiring a developer here in the U.S. Third, the project managers we work with in Vietnam speak and write solid English. We found working with them not an issue. Fourth, I met Ahn Ahn and David Hajdu; they’re good people. We trust and value having a relationship with the partners of Vinasource here in Seattle.”
Okada relates how Asiancooknotes, an Asian cuisine recipe website launched in January 2014, has benefitted from having Vinasource. He notes their “project management team has been responsive and easy to work with, and the work ethic displayed by the Vietnamese development and testing teams has been solid.” Given Vinasouce’s recent successful partnerships with clients, Hajdu envisions “the company will be able to expand next year and build a sales and marketing team to scale exponential growth instead of relying only on organic growth.”
Another factor of Vinasource’s current success is the company culture’s talent acquisition and employee satisfaction strategies. Vinasource’s team grew from eight employees in 2007 to about 60 today. Hajdu remembers, “When Vinasource first gave employees days off for breaks and holidays, they found that employees would plan events with each other and end up spending their days off together anyways.” This experience taught Hajdu “it’s all about culture and having an environment where employees really enjoy working and being together, both in and outside the office.” Hajdu now focuses on keeping employees happy through TinyPulse.com satisfaction surveys that reveal what employees want in order to create a positive company atmosphere.

Hung Pham, a technical manager of Vinasource Vietnam, said:
“What I particularly love about this company is the owner really encourages open and honest communications among everyone in the company. I haven’t seen such culture in my previous employments. You can’t find many companies in Vietnam where staff can just talk to or send feedback to the CEO and get the response he needs overnight. We also feel respected working here… no being pushed around by supervisors and that sort of thing.”

Tam Doan, a program manager of Vinasource Vietnam, also noted:
“Working at Vinasource has been a great experience. I’ve worked at many companies, and this has been my favorite so far. The small size instills a sense of community and closeness. The majority of the employees are young, in their 20s, so they have a lot of drive and enthusiasm. Everyone is willing to go that extra mile to learn and succeed. Because we’re an outsourcing company, it can be stressful and chaotic at times, but that’s part of the challenge, and we welcome it. It’d be boring if we’re never challenged.”
Hajdu also believes the philosophy of “hiring quality people breeds higher quality people” has helped Vinasource recruit top talent in Vietnam to remain competitive.

Looking Towards the Future
Liu and Hajdu envision a bright future for their company as Vietnam’s tech industry and Vinasource continue to expand and develop. Given greater global demand for multi-platform technology in web and mobile applications, there has been increased support by both the Vietnamese government and larger business firms into cross-platform training of Vietnam’s future, technical talent. Vinasource expects to take advantage of that and use local tech talent in Vietnam to develop cross-platform applications to better meet growing market demand. As Vietnam’s technology industry continues to mature, more applications could be developed and “Made in Vietnam”.

ÁNH ĐÈN MẦU (Eternally)- “Terry’s Thème” trong Phim Limelight (1952)
Saturday, April 5th, 2014

 

ÁNH ĐÈN MẦU (Eternally)- hay “Terry’s Thème”trong Phim Limelight (1952) của Charlie Chaplin

Đến nay cuốn phim đen trắng của “Danh Hề Sạc-lô” đã được 62 tuổi đời, nhưng vẫnn còn để trong lòng khán giả trung niên , cao niên biết bao là kỷ niệm.


Vài nét hồi tưởng về về bài hát “Ánh Đèn Mầu- Limelight” do Chalie Chaplin sáng tác và diễn xuất trong phim đen trắng có tên là Limelight và ca khúc được mang tên là Eternally ( nghĩa là Vĩnh Viễn hay Mãi Mãi) với dòng đầu và dòng cuối đều nhắc tới chữ eternally.
Theo nhiều tài liệu xung quanh cuốn phim kể lại: nguyên thủy ca khúc có tên là: Terry’s Theme, mang nội dung tặng một người vũ nữ tên Terry đau khổ vì cuộc đời chạy đuổi theo sân khấu, nhưng may mắn được Charlie Chaplin giúp đỡ khuyến khích, vượt lên khỏi mọi nghịch cảnh và có một tương lai tươi sáng.
Sau đây là nội dung ca khúc lời Anh ngữ:

Eternally lyrics

I’ll be loving you eternally
with a love that true eternally
From the start with-in my heart, it seems I’ve always know
the sun would shine, when you were mine a-lone
I’ll be loving you eternally
There’ll be no one new, my dear for me
Tho’ the sky should fall, remember I shall always be
Forever true and loving you eternally

(Terry’s Theme)

Bản dịch lời Việt của Phạm Duy

Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui
Đời son phấn làm mất bao ngày thơ ngây
Cùng bên ánh mầu sắc lạc lõng trong tiếng đàn hát đêm khuya
Rồi bao nếp răn về với tháng năm đời lãng quên rồi
Buồn trong tiếng nhạc lắng cho đời mê say
Cười trong ánh đèn sáng cho người mua vui
Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn
Chìm theo bóng đêm, người ta lãng quên bẻ bàng
Giờ đây vắng tan rồi, khách ra về, ơi ánh đèn
Nhìn cảnh vắng hoang tàn kiếp con ve khi cuối mùa
Nào đâu phút huy hoàng, phút say sưa theo tiếng đàn vui ca
Kìa khi ánh đèn tắt ơi đời vui ca
Đời thương khóc làm mướn ánh đèn ban đêm
Nào ai biết đời sống bạc bẽo sau tiếng đàn hát trong đêm
Đời ca hát thuê Đời qua phấn son Đời sống không nhà
Về theo nét tàn úa đâu còn duyên xưa
Người năm trước nào nhớ bóng người đêm xưa
Đời cam sống một bóng lặng lẽ cô đơn
Đời xa tiếng ca nào ai tiếc thương bẽ bàng

YP-limelight-600

Ánh Đèn Mầu (Limelight), nhạc Charlie Chaplin (lời Việt Phạm Duy)- là một trong 10 ca khúc được thực hiện trong năm 2013- trong “CD Tình Vẫn Thiết Tha” Y Phương hát “trẻ trung” và nổi bật hơn cả qua I-TunesAmazon MP3

Có thể download qua Amazon, iTunes, Google….

hoặc gửi check order $20 về địa chỉ: Phuong Nguyen , P O Box: 753203 Houston TX 77275

Ảnh đẹp của ca sĩ hải ngoại: Nguyệt Anh hững hờ mơ mộng tràn ngập trên các trang mạng điện tử
Friday, April 4th, 2014

Cựu thành viên nhóm Con Gái khoe vẻ quyến rũ khó cưỡng dưới ống kính của nhạc sĩ Lê Xuân Trường, dù ẩn dấu trong nét mơ màng, sau một ngày sống động thật tích cực hết mình trên sân khấu từ một ngày trước.

 

>> Nguyệt Anh, ca sĩ trẻ của trung tâm ca nhạc Thúy Nga, vẫn độc thân quyến rũ không những toả sáng trên các sân khấu mà lại mơ màng hờ hững trên hàng loạt trang ảnh đẹp chụp tại Orange Hill Quận Cam… nhưng lại được gửi đi thật lan rộng
>> Nguyệt Anh buồn man mác trong chiều Cali (ảnh chụp bởi Lê Xuân Trường trong vùng Quận Cam- Cali)
Nguyet-Anh-10-6083-1396515631-600

Nguyet-Anh-12-4744-1396515631-600

Nguyet-Anh-13-6168-1396515631-600

Nguyet-Anh-14-6653-1396515631-600

Nguyet-Anh-01-2104-1396515630-600

Nguyet-Anh-02-8108-1396515630-600

Nguyet-Anh-03-8429-1396515630-600

Nguyet-Anh-04-2073-1396515630-600

Nguyet-Anh-05-8291-1396515630-600

Nguyet-Anh-06-6221-1396515630-600

Nguyet-Anh-09-3431-1396515631-600

Nguyệt Anh chia sẻ, bộ ảnh được cô và nhạc sĩ Lê Xuân Trường thực hiện vào một buổi sớm khi trời sắp chuyển mưa. Khung cảnh thiên nhiên yên bình, u ám ở California (Mỹ) gợi cho nữ ca sĩ nhớ đến bài hát ‘Rừng xưa đã khép’ của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Định cư tại Mỹ đã hơn 5 năm, cựu thành viên nhóm tam ca mang tên “Con Gái” ít nhiều tìm được chỗ đứng trong lòng công chúng hải ngoại khi đầu quân vào một trung tâm ca nhạc lớn. Cô cũng chuyển sang phong cách nóng bỏng trên sân khấu, thay vì vẻ trẻ trung như hồi còn ở Việt Nam.

Từng gặp nhiều trắc trở trong tình duyên, Nguyệt Anh vẫn chưa tìm được bến đỗ bình yên của đời mình. Cô từng chia sẻ, cô khao khát một mái ấm hạnh phúc nhưng người đàn ông thuộc về cô cần vẫn chưa xuất hiện.

Là con một trong gia đình, bố lại mất sớm, Nguyệt Anh chỉ còn mẹ là người thân. Năm ngoái, cô đã đón mẹ sang Mỹ sống với mình.

Ngoài thời gian đi hát vào dịp cuối tuần, Nguyệt Anh có sở thích tự mình lái xe đi du lịch khắp nước Mỹ bởi cô muốn được khám phá thế giới xung quanh mình.

Bộ ảnh được thực hiện với sự hỗ trợ của stylist Tân Đà Lạt.
Ảnh: Lê Xuân Trường cung cấp

Nghe CD “Trong Cõi Nhớ Mịt Mù”-Trần Ngọc Yến: CÕI NHỚ MỊT MÙ CỦA YẾN
Friday, April 4th, 2014

Ảnh Trần Ngọc Yến trong CD

Buổi sáng ở California;  Tuy trời đã vào Xuân, có mặt trời nhưng không gian vẫn lạnh buốt.  Tôi hay dậy thật sớm để được thấy buổi sáng sương mù dầy đặc che khuất không gian.  Những ngọn đèn đường vàng le lói xen qua những ngọn cây đã như những tâm tư còn ẩn dật trong một khối tâm tư lắng đọng.  Giây phút đó chính là những giây phút đầu óc tôi làm việc hơn bao giờ hết.  Tôi nghĩ rất nhiều nào là hoàn cảnh hiện tại, nào là quá khứ xa xưa, nào là dự định cho hôm nay cho ngày mai.

Nhất là nhớ đến những người bạn;  Có người còn gần tôi, một số đã trở về Việt-Nam để sống, một số vì bận bịu đời sống đã từ lâu không gặp,  một số đã tìm được bến mơ giờ đang ôm ấp  hạnh phúc.  Riêng tôi;  Tôi vẫn còn lại nơi này với văn chương, với âm nhạc.  Hai người bạn đồng hành đã theo tôi suốt quãng đời từ khi  mới lớn. Tôi vẫn sáng tác và vẫn đam mê không hề suy xuyễn.  Với âm nhạc;  Tôi nhận biết được niềm đau hay hạnh phúc, đau khổ hay sung sướng cũng đều như nhau chỉ khác có điều là qua những nốt nhạc huyền bí kia người nghe nhận thức được những gì cho chính mình đó là tùy người thưởng thức.

Nhưng trong tôi;  Âm nhạc đã đánh thức trong tôi những viễn vông đẹp tuyệt vời.  Đã cho tôi những mộng mị để tôi quên bớt những khô cằn của cuộc đời này khi con người vẫn còn lừa dối nhau qua những cuộc tình không đoạn kết, khắc khoải trong những quãng thời gian vô vị.  Âm nhạc đã cho tôi những mông lung để rồi tôi tự an ủi cho chính tôi tình yêu là đây khi con người chưa thực sự trao nhau những mảnh chân tình thật.

 

 

Bên ly Café đầu ngày, tôi lắng nghe đĩa nhạc mới nhất của cô em gái Trần Ngọc Yến vừa mới gửi. Không hiều sao tôi lại quý những thứ ấy vô cùng. Tôi tháo thật nhé cái ribbon mầu đỏ thắt thật ngay ngắn xinh xắn, thứ âm thanh êm dịu của Jazz của những bài Yến viết đã là những niềm tâm sự đầy ắp đam mê, đầy ắp những chất chứa của những niềm khắc khoải, vấn vương, muộn phiền về những khía cạnh của cuộc đời, của những mối tình chia muôn hướng, tan loãng, đắng như ly Café sáng nay?

“Trong Cõi Nhớ Mịt Mù”  tiếng hát của Yến trầm khỏe, truyền cảm cùng những ca khúc trữ tình có giai điệu đẹp, trong sáng, dễ đi vào lòng người như tiếng lòng, nức nở, rạo rực, chán nản, ngán ngẩm, có khi như ngàn sóng vỗ bờ.  Tiếng hát của Yến như những lời thì thầm của “Biển Bạc” chuyển tới những mảnh vỡ của cuộc tình những lời yêu thương tự trái tim khô héo của một đời người. Từ một con tim nồng nàn.  Để ta có thể gặp nhau ở tận cùng đêm tối trong nỗi cô đơn thầm lặng nhất dương trần. Khi nghe, tôi có cảm tưởng cô em gái của tôi mượn thanh âm của dòng nhạc như những tiếng lòng của cô ấy. Tôi hiểu cô em tôi, chất chứa biết bao nhiêu mà muôn đời không thốt lên thành tiếng thoát ra khỏi cổ.  Tiếng hát Yến là thế, vẫn muôn đời gửi tới người nghe những gì yêu dấu, những lời chân thật nhất của một đời người :  “Trong Cõi Nhớ Mịt Mù”.

 

 

Tôi đang ngồi ở một nơi chốn mà ở đó khi nhìn ra ngoài cửa sổ ánh nắng yếu ớt dần và hình như bầu trời đang sụt sùi khóc.  Trời Cali.  mấy hôm nay âm u tuy là mùa Xuân đã về rồi đấy. Trên tay tôi, đĩa nhạc   ”Trong Cõi Nhớ Mịt Mù” của Trần Ngọc Yến với tấm hình bìa thật buồn, trình bầy nhã nhặn, tông mầu tráng đen hiện rõ cá tính của Yến,  như chấp nhận mọi thương đau đang dầy vò trong tâm khảm.  Trông nàng cũng giống như tâm trạng tôi lúc này.  Tôi cứ đang tưởng tượng như thế giới này đang sắp sửa sụp đổ khi những âm thanh thật buồn đang rót vào trái tim nhỏ bé của tôi những cảm xúc thật xót xa.  Tôi chợt nhận thấy tình yêu giờ đây chỉ là hư ảo và kèm theo là những cơn đau dài vô tận. Yến có một chất giọng khàn tự nhiên.

Chính vì lẽ chất giọng khàn đam mê này mà những nhạc phẩm cô sáng tác và trình bầy đã mang một âm hưởng thật đặc biệt.  Tự chất giọng thật lạ này cũng đã đủ diễn tã nội dung nhạc phẩm tới hơn phân nửa.  Tiếng hát của Yến qua nhạc phẩm “Trong Cõi Nhớ Mịt Mù” của chính cô sáng tác.  Nhạc phẩm này cũng là chủ đề của đĩa nhạc mà tôi đang cầm trên tay và đang tê tái tận hưởng cơn đau đang xâm lấn vào từng tế bào qua từng lời nhạc được trình bầy một cách đam mê, nức nở.  Tiếng hát của Yến sáng nay hòa với những cơn gió lạnh lẽo đơn côi nào đó đã thực sự đem hạnh phúc về nơi viễn xứ.   Tiếng hát của yến đã làm tôi cảm nhận thật xót xa về cuộc đời và thân phận của mình.  Khi đang thật hạnh phúc bên nhau có ai nghĩ đến ngày kia ta xa nhau.  Tôi vẫn nhớ mãi câu thơ của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền : “Anh là thằng điên khùng.  Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày mai”  Vì ngày mai sẽ là của xa cách, của chia lìa. Và cuộc đời tôi vẫn thế;  Vẫn phải chịu đựng những oan nghiệt, những ngang trái của tình đời bằng những giọt nước mắt lặng lẽ trong đêm tối chẩy dài trên những tháng ngày chờ mong.  Kỷ niệm của những ngày chúng ta bên nhau nhớ để tìm về những nỗi đau.

 

 

“Biển Bạc”;  Một trong những nhạc phẩm tôi rất thích trong đĩa nhạc này.  Tôi nhận thức được sự lẻ loi, đơn côi trong trái tim muộn phiền.  Nhạc phẩm “Bên Ly Café” như đang tàn lụi trong nghẹn ngào của những niềm tuyệt vọng.  Bầu trời âm u buồn quá đỗi,  Tôi cứ tưởng tượng như tình yêu không ở xa tôi lắm nhưng mà sao xa quá là xa. Tôi mê nhạc;  Phải nói là tôi mê nhạc.  Không một đĩa nhạc nào là tôi không có.  Không một nhạc phẩm nào mà tôi không biết.  Có những tác phẩm nghe mãi nghe mãi cũng vẫn không động được lòng tôi.  Nhưng có những nhạc phẩm chỉ một câu đầu tiên thôi đã làm tôi có thể quên tôi còn hiện hữu trong vũ trụ này.  Cũng dễ hiểu thôi;  Mỗi ca khúc đem lại mỗi người một sự rung động khác nhau.  Hình như đối với tôi nhạc là hay rồi.  Hay dở là tùy thuộc vào sự rung động hiện thời.  Ca khúc gợi lại trong ta những gì đã qua một thời có thể là những kỷ niệm vui và cũng có thể là những kỷ niệm thật buồn.  Sự hiện hữu trong những tác phẩm nghệ thuật nếu đi sát với những sự sinh hoạt hằng ngày trong đời sống, diễn tả những tâm trạng cùng chung của nhiều người thì tác phẩm đó dể để trở thành quen thuộc và dễ đáp ứng được nhu cầu tinh thần của người đang mang cùng  tâm trạng như nội dung tác phẩm.  Mấy ai mà được êm ả trong tình yêu?  Và cũng chẳng có mấy ai ca tụng tình yêu tới một cách dễ dàng không bị ràng buộc trái ngang bởi hoàn cảnh.  Tình trường đã là bạn thân của những trái ngang chia lìa.

 

 

Đĩa nhạc “Trong Nỗi Nhớ Mịt Mù” đã đi vào tim tôi ngay từ lúc Yến hát bài đầu tiên “Bên Ly Café” và tôi tin chắc nhạc phẩm này và đĩa nhạc với chủ đề này cũng đã đi sâu vào tâm tư của biết bao cuộc tình đang còn nhiều trái ngang.  Ngày mai vẫn là ngày mai.  Với hai bàn tay hụt hẫng này làm sao có thể thay đổi được ngày mai.  Tình yêu đã chỉ là những áng mây, hay là những giọt nước mưa chẩy trong đêm khuya thầm lặng và đã vào lãng quên rồi. Tình yêu có lúc như những đám sương mù, có khi như một ngày nắng chói chang, có khi tình yêu là những gì không làm sao hiểu được, cuộc sống không tình yêu sẽ bỗng trở nên một cái gì hết sức khó thở và tầm thường, thế giới không tình yêu là một nơi cho con người tìm cách đầy đọa lẫn nhau.  Không ai còn nhớ đến quả địa cầu đầy ánh sáng này, tất cả con người đang nhìn thấy là những tương tranh, những dành dựt những hận thù, những quá khứ, những tương lai đầy bóng tối, không một lối ra cho bất cứ một ai, cho kẻ sống và người chết. Từ bao nhiêu năm qua, tôi đã đi tìm kiếm sự bình an đã từ lâu rồi và cuối cùng con đường dẩn tôi đến tình yêu vẫn dài và ngoằn ngoèo, và đêm vẫn về buồn se sắt.

 

Những đam mê cũng sẽ tan dần trả về cho sự thật những bẽ bàng, thương đau nào đó. Những đau khổ hay hạnh phúc của con người rồi cuối cùng khi chết thì cũng chỉ chết như một con vật chết mà thôi. Âm nhạc, thì quả thật hiền hòa.  Trong âm nhạc không có hận thù.  Trong âm nhạc không có tị hiềm.  Trong âm nhạc không có chết chóc thương đau. Có những giây phút thật nhàm chán, tôi cũng vẫn phải gượng sống vì sống là phải chấp nhận.  Tôi vẫn phải cố gắng vượt qua hết tất cả khó khăn. Tôi vẫn can đảm kéo dài cuộc sống phiền muộn này và tiếp tục từng ngày một nhận lãnh những nỗi buồn day dứt. Tình yêu là một bí mật kỳ diệu tự nó đến và tự nó ra đi, mà sự ngăn giữ chỉ là “trò hề” của định mệnh. Định mệnh của tôi là một chuỗi thời gian buồn hun hút và đã dệt lên một dòng sông có nước mắt chan hòa.  Đâu có một sự chia tay nào mà không có rơi lệ và không để lại cho nhau những nhức nhối.  Để lại những nỗi nhớ trong cõi mịt mù.

Cám ơn Yến đã tặng anh đĩa nhạc này nhé. Anh hiểu em! Yến ạ!

(L X T)

Ghi chú:

Order by mail: Send check to:

Ngoc Yen Tran

3920 Cypress Creek Pwy # 280

Houston, TX 77068

Nguyệt Anh mơ màng giữa cây cỏ, sau ca khúc: toả sáng sống động sân khấu
Wednesday, March 26th, 2014

Một trong những tiết mục ca nhạc nổi bật trong đêm thu hình của MC Entertainment như Nguyệt Anh, Lê Thu Thảo, Johnny Dzũng, Sơn Tuyền, Trúc Linh -Trúc Lam.. mà Nguyệt Anh như tươi trẻ nổi bật qua ca khúc “Mưa Hồng“, tung tăng bên cạnh các nữ vũ công phụ họa, tươi sáng bằng nét hòa âm mới bay bổng trong dòng nhạc Trịnh Công Sơn.

Gặp gỡ, được nghe Nguyệt Anh hát tại buổi thâu hình DVD tại La Mirada;

cả hai người bạn trẻ: Nhiếp ảnh gia lẫn ca sĩ/người mẫu đã dành cho trang Người Việt Tây Bắc xử dụng in lại những hình ảnh và post tiếng hát của cô trên www.NWvietnamesenews.com

Cô ca sĩ của mùa Xuân trên sân khấu Thúy Nga Paris, và cũng là cựu thành viên nhóm “Con Gái”

như nàng xuân mộng mơ dưới ống kính của nhạc sĩ Lê Xuân Trường.

Nguyet02

Nguyet06

Nhạc sĩ Lê Xuân Trường chia sẻ, mà anh ghi lại những khoảnh khắc mộng mị, lãng mạn của Nguyệt Anh tại khu giáo đường Wayfarers thuộc thành phố Rancho Palos Verdes, California. Con đường dẫn đến giáo đường sáng hôm đó mù sương từ 6 giờ sáng, anh cầm máy ảnh và bắt được nỗi buồn vô cớ trên gương mặt nữ ca sĩ, bằng ống kính cự ly 100mm, khẩu độ 2.8 quen tay.

Nguyet07

Nguyet03

“Nghe đâu đây tiếng hát Nguyệt Anh phảng phất ‘lời buồn thánh‘ sao mà tha thiết, lạc vào những vui, những buồn của từng tình khúc, của những giai điệu mượt mà sâu lắng. Tiếng hát Nguyệt Anh ru hồn về một khoảng nhớ. Tiếng hát Nguyệt Anh bay thật cao, thật nhẹ và tôi đã nhìn thấy sự hồn nhiên, mộng ảo”, nhạc sĩ nổi tiếng viết.

Nguyet04

Nguyet09

Nguyet10Từ ngày chuyển sang Mỹ định cư, cựu thành viên nhóm Con Gái hoạt động ca hát tại một trung tâm ca nhạc lớn của hải ngoại. Khác với phong cách trẻ trung ngày trước, cô đã chuyển sang hình ảnh gợi cảm, mặn mà.
Và tấm ảnh bên dưới là hình mới nhất chụp sau ngày Nguyệt Anh tỏaq sáng rực rỡ thôi miên khán giả trong hý viện La Mirada.

Ghi chú:ảnh dưới cùng chụp từ mờ sáng một ngày sau buổi trình diễn hát Mưa Hồng trên sân khấu La Mirada, các ảnh và thông tin được phép xử dụng do nhiếp ảnh gia cung cấp.

 

Nguyet05

Nguyet01

 

Nguyet08

2014_03_SquareQV-2

 

 

 

 

Town Hall greets Supreme Court Justice Sonia Sotomayor as the “Abuelita” (Grandmother) of all Minorities in the World
Tuesday, March 25th, 2014

Seattle  greets Supreme Court Justice Sonia Sotomayor as the “Abuelita” (Grandmother)

 

Seattle – Applause and standing ovations greeted Sotomayor as the “Abuelita” (Spanish term for Grandmother) of all ethnicities in the room and World Wide. The Monday 10th at Seattle’s Town Hall was quieted by interviewer, Eric Liu writer living in Seattle & author of Guiding Light, with a gesture to her towards her chair as a way to let the audience know the interview was starting and subtlety quieting them.
She prefaced her book, “My Beloved World”, explaining the content, “It provides an introduction to family, her route in life, interactions of career with family, and her own personal story.” She added, “No book is whole. In most cases, it’s a 9 month journey. In my case it was a 9 year journey for her book.”
She shared a key component leading to success and encouraged all to do, “The biggest holdbacks of most people are having an ability to ask for help and admission to say, I don’t know. I never am never ashamed to admit, I don’t know.”
She encouraged all attendees to strategically seek mentors and to choose these mentors strategically. She went on to say, “Choose mentors whom you admire, reflect who you want to be and share your integrity. Mentors see your potential, want to share their knowledge, and help build your success and want to help you bloom into the individual they see you can be.” ” She continued by sharing, “Establish a game plan. Take a step by step and be proud of your achievements. Don’t try to forget your background, embrace it.”
She slowly and briefly looked around the room, provided eye contact to all and said about her book, “My story is your story.”
Among questions posed at the near the end of the event, the highlight of the evening was the question posed by an 8 year old, Andrea Cruz Munoz, asked. Liu read the question out loud to the audience and to Sotomayor, “If I were a Justice like you, I would make a law that parents don’t need to work but work at home. If you were my age, what law would you choose and why?” Sotomayor had a look of surprise, pleasure and invited Andrea to the stage for an answer directly for her. Andrea did not initially want to approach the stage so her Abuelita Patricia Carrion Moras accompanied her. Sotomayor smiled as she looked straight at Andrea and shared her answer, “Education. Education is the most important thing I have. If you could learn something new every day, it is such an adventure and I want that adventure with every child. And unfortunately, we have a system where we fund schools differently and some kids have more of an adventure than others, and some kids can’t better in life than others, and so if I could change that, that’s what I would change. And if I could bring my Abuelita back, I would.”

 

The the end of the interview, the audience provided a standing ovation, whistled loudly, clapped even harder and parted with the knowledge of the Spanish name “Abuelita” can be applied to all grandmothers regardless of which ethnicity.

 

Sotomayor’s book, “My Beloved World,” is now available in stores and online now.

Chung kết Hoa Hậu Phụ Nữ Người Việt Thế Giới năm 2014 tại La Mirada: thành công với nhiều sáng kiến, sức sống trẻ trung
Tuesday, March 25th, 2014
Nhiều sáng kiến, sức sống trẻ trung của người Việt từ bốn phương trời về hội tụ… 
Đông đảo đồng hương người Việt, nghệ sĩ, người mẫu, diễn viên điện ảnh các hoa hậu, á hậu cũ, mới của nhiều tổ chức giải thưởng khác nhau đã tập trung về Hí viện La Mirada tham dự buổi thi Hoa Hậu Phụ Nữ Người Việt , mà cũng chính là buổi thi thố tài năng trên sân khấu với các góc cạnh mới độc đáo để thu hình cho DVD Minh Chánh Entertainment sẽ được phát hành rộng rãi vào tháng 5-2014…

Mời nghe Youtube của Johnny Dzũng hát khi giới thiệu trình diện toàn thể các thí sinh giờ phút chung kết cuộc thi là: “Em Trong Mắt Tôi” nhạc Nguyễn Đức Cường, lời Anh ngữ Johnny Dzũng, hòa âm: Đồng Sơn…

Sáng kiến của ban tổ chức là bầu chọn ra chọn nhiều người đẹp với các giải, và chức vị mang lại niềm vui, cùng được hãnh diện như: “Hoa Hậu Người Việt Thế Giới”, “Người Đẹp đến từ Mỹ Châu”, “Người Đẹp đến  từ Âu Châu”, Hoa Hậu, Á Hậu đến từ Việt Nam”, “Người Đẹp Tài Năng”, “Người Đẹp Ca Hát”, “Người Đẹp Thân Thiện”, “Người Đẹp Duyên Dáng” v. v..
Hoa Hậu Phụ Nữ Người Việt Thế Giới năm nay về tay thí sinh Hà Bùi-Hanna (SàiGòn-Việt Nam), Á Hậu 1: Trần Bích Ngọc (San José), Á Hậu 2: Cindy Trần (Westminster), Á Hậủ 3: Bùi Thị Trang (Hải Phòng-VN)  … và một số vinh danh khác như Người Đẹp đến từ Mỹ Châu: Vivian Vi Phạm (San José), Người Đẹp đến từ Á Châu: Selena Nhung Võ, “Hoa Hậu Tài Năng Ca Hát” Tâm Trần ( Garden Grove) Hoa Hậu Tài Năng- Thân Thiện Phan Thị Ngọc Ánh và các  diễn viên người mẫu, tài năng đặc sắc khác… cũng là dịp để khán giả chiêm ngưỡng nét tươi thắm khiêm cung của Hoa Hậu Hà Kiều Anh,

Ban giám khảo với mười vị trong đó có các nhà truyền thông 2 vị chủ bút, 3 giám đốc đài truyền hình, nhà thiết kế Bích Xuân, các hoa hậu như Hà Kiều Anh, Bích Trâm, Nhà Thiết Kế Trang Sức -Doanh gia Diễm Xuân á hậu Trần Bích Ngọc, Candy Mai Phan. Nổi bật trên hàng ghế VIP như phóng viên Đài VNCR- Lê Tài cùng với nhiều thượng khách, Bác sĩ, nhạc sĩ, đạo diễn, nhiếp ảnh gia của ban tổ chức: Lê Thiện Viễn và mộtsố nhiếp ảnh gia phóng viên báo chí-truyền hình…, nhà bảo trợ: Nguyễn Thị Diễm Hằng-chủ nhân hệ thống Mimi -SPA Clinic, người mẫu Thanh Nhã (Jade), diễn viên điện ảnh kiêm doanh gia danh tiếng như cô Hà My.v..v..
[gallery ids="6938,6946,6947,6948,6949,6950,6951,6952,6953,6954,6955,6956,6969,6968"]
Xin click vào mũi tên bên trái hoặc phải để xem một số hình ảnh chú thích các hình ảnh góp mặt trong buổi thu hình: Hoa Hậu Phụ Nữ Người Việt Thế Giới 2014″
Trong phần trình diễn thu hình trên sân khấu có sự trở lại của nhiều ca sĩ trẻ trung từng đóng góp qua các trung tâm ca nhạc trước đây, hoặc trên các sân khấu của người Việt tại các Tiểu Bang thời gian gần đây như: Sơn Tuyền, Trizzie Phương Trinh, Mạnh Đình, Trúc Linh-Trúc Lam, Ngọc Thúy, Đài Trang (Mâys Productions), Gia Huy (TT Asia), Johnny Dzũng của Trung Tâm ASIA hát “Em Trong Mắt Tôi” khi trình diện các thí sinh để công bố kết quả chung kết., Nguyệt Anh (Trung Tâm Thúy Nga), Lê Thu Thảo (Mây Productions). Trong phần thu hình còn có nhiều tiếng hát mới đang được chú ý sang Hoa Kỳ trình diễn kể cả Hà Bùi với Con Bướm Xuân,  hoặc đã định cư tại Hoa Kỳ, kể cả Hoa Hậu Hà Kiều Anh xinh đẹp, xuất hiện  cả qua lời ca tiếng hát, cùng với phần thu hình tiếng hát quyến rũ của Tâm Trần (Garden Grove) của ca sĩ Lưu Việt Hùng…
Những tiết mục do Minh Chánh và Nathaliee Trương biên soạn chuẩn bị cho một số chương trình DVD phổ biến khắp thế giới, mỗi năm cho ra đời 1-2 chương trình với giá bán DVD original tung ra bán để phổ biến xa gần cũng như tặng rộng rãi, sẽ là cơ hội mang lại niềm vui giải trí, đề tài  bàn luận về các tài năng độc đáo mới lạ, và những tiếng hát từ lâu vẫn thiếu vắng trong lòng người hâm mộ. Điển hình nhất là DVD thu hình buổi thi “Hoa Hậu Trẻ Người Việt Thế Giới” với phần trình diễn ca nhạc chứa đựng sự thuyết phục và cạnh tranh sắp phát hành.
Các MC như Nhạc Sĩ Lê Xuân Trường, Ca Sĩ Khánh Hoàng (VietFace), Hoa Khôi Hằng Ni, Thùy Dung (VBS-TV) và tăng cường MC Lê Ánh 9 (Atlanta-GA), tất cả đều tạo góc cạnh mới dẫn giải trước các tiết mục trình diễn. Họ là những nghệ sĩ trẻ, sáng tạo hợp thời nói năng vui tươi ý nghĩa được tán thưởng mạnh mẽ.
Các vũ công nhào lộn trên không, các đội vũ nam nữ trẻcủa Hollywood (Nico O’Connor), và đội vũ Việt Cầm với đội ngũ thanh thiếu nữ Việt áo bà ba, hoặc áo dài nữ sinh đều do vũ sư Đình Luân huấn luyện góp phần làm tươi sáng sân khấu… phụ hoạ với các tiếng hát quê hương hoặc trẻ trung được thu hình cho DVD… với phần âm thanh sắc sảo do giám đốc Huỳnh Nhật Tân đảm trách…
Trong thành phần quan khách thu hút nhiều chuyên gia, doanh gia xa gần và các nghệ sĩ được giới thiệu. Điển hình như nhạc sĩ Tuấn Khanh đã phát biểu sau những giây phút “nhạt nhòa” lệ khi thưởng thức tác phẩm của mình: “Tôi đến ủng hộ và thưởng thức ca khúc Nhạt Nhoà được trình diễn với phần hòa âm công phu của nhạc sĩ/casĩ Hoài Phương, tiếng đàn Hoàng Công Luận- tiếng hát mênh mang sâu lắng của Lê Thu Thảo, mà quả thực hiếm mấy ai lấy được những dòng nước mắt của tôi như khi nghe hát trong đêm diễn tại La Mirada…”.. và Đạo Diễn Trần Thăng nói: ” tôi đến để thưởng thức nhận xét cập nhật  những tiếng hát, từng góp mặt với trung tâm và tìm hiểu các sáng tạo của nhà tổ chức trẻ, quan sát những tiếng hát của tương lai, nghệ sĩ  từng góp mặt với  làng ca nhạc những năm trước đây”.
Ca sĩ Cécilia Bach thố lộ: “ đến ủng hộ, quan sát và đo lường nghệ thuật sân khấu và âm thanh của làng giải trí và nghệ thuật trình diễn Việt trên đà tiến trong dòng chính như các công ty Hoa Kỳ… như “mô thức” tạo một nhịp cầu nối liền hai thế hệ, hai bờ đại dương và các thành phố xa gần, tạo cơ hội cho sự góp mặt của phụ nữ người Việt khắp nơi trên thế giới…”
Một số tiết mục rất đặc sắc như phần trình diễn ca nhạc trên sân khấu có vũ công  Hollywood hoặc ban nhạc làm hậu cảnh, với ánh sáng thiết bị tân kỳ qua lợi thế của sân khấu rộng và có trần cao rộng… Tiết mục nổi bật cũng là sáng kiến làm chói sáng rực rỡ sân khấu là: Biểu diễn đánh trống Việt Nam với trên 10 tay trống và các loại trống tiêu biểu của văn hoá truyền thống Việt Nam không thua gì nét văn hóa “Biểu Diễn Đánh Trống Nhật” nổi bật mà người Nhật vẫn có để hãnh diện.
Tiết mục tươi sáng mang tính văn hóa Việt này sẽ được góp mặt trong DVD sau này của Á Hậu 2 và cũng là Hoa Hậu Tài Năng: Cindy Ngọc Trần (Westminster-CA) hiện là chuyên viên nhiều tài năng, sáng tạo của công ty Boeing tại Nam California./.
Các thí sinh đã chụp xong bộ ảnh chuẩn bị vào Chung kết Hoa Hậu Phụ Nữ Người Việt Thế Giới 2014
Tuesday, March 18th, 2014

Thời gian tính đến Chung kết cuộc thi Hoa hậu Phụ nữ người Việt Thế giới chỉ còn tính từng giờ chứ không phải từng ngày nữa. Thí sinh ở khắp nơi trên thế giới như Việt Nam, Thụy Điển, Âu Châu, Úc, Canada và các tiểu bang khác đã tập hợp đông đủ tại Khách sạn Ramada, thành phố Garden Grove, miền Nam California để tập đội hình, ứng xử và diễn trên sân khấu do nhân viên Hollywood phụ trách.

Cuộc thi sẽ diễn ra trong ngàythứ Sáu  21-3-2014, nhưng các thí sinh và các nghệ sĩ tham gia đã tụ họp về khá đông đủ. Ngày 20 tháng 3 sẽ là buổi chấm vòng Sơ Kết cũng tại La Mirada để chọn ra khoảng 16 thí sinh từ 60 thí sinh tham gia. Những thí sinh được chọn sẽ tiếp tục thi thố tài năng cho ngày Chung Kết để được chọn là Hoa Hậu và một số ngôi vị Á Hậu…

 Dạ hội kết thúc đại hội sẽ diễn ra vào thứ Bảy 22-3-2014.

 

Ban Tổ chức Minh Chánh Entertainment đã thực hiện buổi chụp hình tại trung tâm  Thành phố Pasedena của miền Nam California, không xa thủ đô của người Việt là Quận Cam- Nam Cali.

Những tòa nhà đã được xây theo kiến trúc thời Renaissance của nước Ý thế kỷ thứ 16, do kiến trúc sư người Ý Andrea Palladio đảm nhiệm. Những tòa nhà mang nét kiến trúc cổ điển đã không ngừng thu hút các nhiếp ảnh gia nổi tiếng đến chụp các bộ hình sưu tập.

Thường thì các cặp tình nhân cũng vẫn lựa chọn nơi này để chụp ảnh cưới. Những kiến trúc đẹp cổ điển của thành phố Pasadena cũng là một biểu tượng của miền Nam California mà các thí sinh, du khách, người mẫu đến từ khắp nơi sxa gần hãnh diện lưu lại những hình ảnh đáng ghi nhớ. (ảnh Le Thien Vien và  Stylist: Do Long do Minh Chánh Entertainments  cung cấp)

[gallery ids="6892,6891,6890,6889,6888,6887,6884,6885,6886,6883,6882,6881,6878,6879,6880,6877"]
Từ xa về dự đại hội: “Hoa Hậu Phụ Nữ Người Việt Thế Giới” người Việt vẫn thích đi ăn tiệm có món ngon quốc hồn quốc túy -Việt Nam
Friday, March 14th, 2014

 

Ảnh trên:  Thí sinh Thảo Loren mới đặt chân đến Quận Cam

thăm thành phố, nhà hàng ăn ngon và

sẵn sàng tập dượt vào vòng thi Hoa Hậu

Du lịch đến một thành phố có đông người Việt như Quận Cam- Cali, du khách từ Việt Nam, hay Thụy Điển, Đông Âu thì việc đi ăn món quốc hồn quốc tuý vẫn là việc quan trọng hàng đầu. Hai thiếu nữ Việt cùng với gia đình đi đến một nhà hàng Việt ở quận Cam để thưởng thức các món ăn Việt sau khi đã tìm địa chỉ hiểu qua Google Search Yelp và trang web.

Thi sinh toi -600

Ha-My fromVietnam

Người phụ nữ trẻ đến từ Việt Nam (áo xanh-phải) trong ảnh trên cho biết: “ngay khi từ phi trường John Way về là đã thèm được ăn các món ăn Việt như Bánh Canh, Phở, ở hải ngoại vẫn là một điều hạnh phúc. Các thí sinh về dự thi, họ là những du khách từ chân trời góc biển Thụy Điển, Úc… đã về đây thưởng thức Đại Nhạc Hội thu hình ngày 21-3 của Minh Chánh Entertainment tại La Miranda.

(Ảnh trên: Đại diện Minh Chánh Entertainment Nathalee Truong, áo hồng góc phải đã hướng dẫn một thí sinh vừa  từ Phi Trường John Wayne về khách sạn và thăm viếng khu Phố Việt Nam. Hầu hết các du khách và người mẫu, Hoa Hậu Á Hậu và thí sinh tham dự cuộc thi Hoa Hậu Phụ Nữ Người Việt Thế Giới ngày 21-3-2014 tại La Mirada, đều có dịp đi thưởng thức các món ăn ngon tại nhà hàng Việt ở Quận Cam-

Ảnh dưới: Người mẫu kiêm doanh gia Hà My (váy đỏ bên phải) cùng với Nathaliee Truong đại diện Minh Chánh Entertainment đi ăn nhà hàng Việt tại Quận Cam trong suốt một tuần lễ du lịch tại thủ đô người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ và ảnh trên cùng đầu bài là thí sinh Thảo Loren đến từ Thụy Điển- Ảnh của Minh Chánh Entertainment cung cấp).

Xem bài và hình ảnh kỳ Đại Hội Hoa Hậu Phụ Nữ Người Việt Thế Giới 2014, trang www.NVnorthwest.com và Google Search)

CECILIA – Fragrance of Love – Song of Viet Nam: Hương Xưa: Một Giấc Mơ Ngoan
Thursday, February 13th, 2014

 

 

Cécilia Bach hát Hương Xưa (Fragrance of Love): Một Giấc Mơ Ngoan

https://www.youtube.com/watch?v=1EQoyyjLI10&list=UU_pCyfzZ8P7_lSX1c7cW2VQ

Khuôn mặt khả ái, hiền lành; tiếng hát dồi dào sinh lực, mông lung như phủ một lớp sương. Đôi mắt đen sâu, mái tóc đen xõa buông, dáng vẻ lịch lãm. Nhìn cô người ta dễ nhận ra ngay một mẫu người giầu tình cảm, suy tư mà cương quyết, thanh thoát mảnh mai mà nhanh nhẹn.

Tất cả những thứ đó đã như một tiếng sét nổ giữa trời làm rung động trái tim người thưởng thức. Tiếng hát của cô như rót vào tâm tư người nghe, những nồng say,  chìm ngập trong giọng hát, trong đôi mắt sâu đen tuyệt diệu của cô.


Cecilia Bach

“Còn đó tiếng tre êm ru

Còn đó bóng đa hẹn hò

Còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu”

 

 

 

Tất cả đã bắt đầu vào một sự tình cờ, tôi được xem bản Music video lần đầu khi anh Phạm Kim chủ nhiệm báo Người Việt Tây Bắc gửi cho tôi xem, và anh có hỏi tôi nghĩ như thế nào về phần trình bầy của Cecilia? Tôi có trả lời anh, và đã cho nhiều khích lệ với một tên tuổi mới này. Tiếng hát Cecilia vươn cao, trầm ấm. Âm thanh tiếng hát của cô tưởng như tràn ngập hòa tan vào trời đất, tràn vào sóng biển. Với ánh mắt long lanh tình tứ mà thanh khiết, ánh mắt đó như được phủ bởi một màn sương, mơ hồ, diệu vợi mà huyền ảo. Như vạn vật cảnh sắc thế gian, thu gọn vào bầu trời. Tiếng hát thanh thoát. Và rồi, như mây, bảng lảng bay đi, bay vút lên cao, bay xa mịt mù…

 

Tên Việt Nam của cô là Bạch Chi và cô chọn Cecilia tên của vị thánh tử vì đạo Thánh Cecilia hay còn gọi là Cecilia thành Rôma, sinh khoảng năm 200 tại Rôma; mất khoảng năm 230 là vị Thánh quan thầy của các nhạc sĩ sáng tác nhạc trong các giáo hội Kitô giáo. Cecilia cũng là tên của người ca sĩ opéra mà cô hằng yêu thích Cecilia Bartoli. Cecilia sang địch cư tại Hoa Kỳ vào năm 1990, và định cư ở Nam Cali. Còn bé, cô đã yêu âm nhạc. Cô tâm sự:

 

  “Em nhớ lúc khoảng 4 tuổi, ba em đã để em đứng lên bàn nói em hát, và buổi tối em vẫn nghe ba đánh đàn guitar hay violin, còn mẹ em thì hát trong ca đoàn của nhà thờ lúc bà còn thiếu thời, và em vẫn nhớ một vài lần mẹ hát thánh ca lúc buổi tối trăng sáng chiếu qua cửa sổ hắt lên phòng trước giờ em đi ngủ. Năm lớp 3, em đã hát ở nhà thờ, và cả ở trường khi gia đình em ở Vũng Tầu. Qua Hoa Kỳ, tuy bận rộn hội nhập và đi làm từ lúc mới qua, em vẫn tham gia hát cađoàn ở nhà thờ. Khi em vào Đại Học của Riverside (University of California, Riverside),em thi  vào hát cho hai ca đoàn chính của trường đại học, và là người hát solo trong 4 năm liền.

 

Ngày ra trường em đã hát solo bài Quốc Ca và bài hát về ngôi trường thân yêu trước hàng ngàn giáo sư, bạn học, và gia đình, trong sự ngạc nhiên của đa số các bạn cùng khóa. Bản tính em rất kín đáo và khiêm tốn nên chỉ một vài người bạn thân nhất mới biết em biết hát mà thôi. Bởi vậy nên em nghĩ rằng, lúc em thực hiện bài Hương Xưa, em biết, đa số những người biết em sẽ rất ngạc nhiên là em biết hát.”

 

 

Năm 1999 tạp chí Business Week có viết một bài về Cecila qua lời giới thiệu của trường Đại Học. Cô ra trường và làm việc về ngành Công Nghệ Thông Tin (IT) , lần đó, trên trang bìa của tạp chí có hình Cecilia và cả hình của một người mà về sau ông ta là giám đốc của hãng Amazon nơi mà cô đã làm việc trước đây. Quả là một sự trùng hợp. Sau một thời gian làm việc, Cecila luôn mong sẽ có dịp thực hiện giấc mơ âm nhạc của mình, và  thời cơ đã đến như lời cô tâm sự:

 

“Lúc em cũng có một tiềm lực thúc đẩy em thực hiện giấc mơ sáng tạo và âm nhạc. Trong kho tàng âm nhạc của Việt Nam, em lại nghĩ Hương Xưa có nhiều chất classical và đó cũng là một thể loại em thích nữa nên em đã chọn ca khúc này để thực hiện video này. Em rất yêu quý bài hát này. Vì em có thấm nhuần và ảnh hưởng nhạc orchestral và choral của âm nhạc cổ điển Tây Phương, nên em muốn hòa âm ca khúc Hương Xưa theo tính cách mà em thích để giới thiệu thêm một nét đẹp khác tô điểm thêm cho Văn Nghệ Việt Nam.”

 

 

Cơ duyên đến, và cô đã may mắn được làm việc với ông John Kurlander – ông là kỹ sư âm thanh, người đã từng làm việc với Michael Jackson, Sarah Brightman, và là người đã từng đoạt nhiều giải Grammy trước đây. John Kurlander cũng đã từng làm việc ở phòng thu Abbey Roads, nơi ban nhạc The Beatles thu âm hầu như tất cả những album của họ. Ca khúc Hương Xưa đã được hòa âm bởi nhạc sĩ Jeremy Soule người Mỹ chuyên làm hòa âm cho nhạc film, truyền hình, và cho những trò chơi điện tử. Anh cũng đã từng đoạt giải thưởng âm nhạc ở Anh (British Academy Award) và cũng là người được khán giả bầu chọn vào vị trí thứ 5 của chương trình British Classic FM Hall of Fame. Bên cạnh quá trình thực hiện, Cecilia cũng đã rất bận rộn, ngoài công việc hằng ngày ở sở cô cũng hát trong ca đoàn của nhà thờ St James Cathedral ở Seattles qua sự điều khiển của nhạc trưởng là Dr. James Savage người đã từng đoạt giải thưởng PastoralMusician of the Year.

 

Cecilia kể :”Sau khi thâu âm xong ca khúc Hương Xưa, em muốn làm một phim ngắn để minh họa ý tưởng của bài hát. Em lại bắt đầu nghiên cứu tìm tòi, dành dụm tài chánh, và bỏ rất nhiều thời giờ để thực hiện. Từ lúc còn bé em thấy những cô gái múa ballet em rất thích, nhưng không có cơ hội học. Và mỗi lúc em nghe bài Hương Xưa sau khi thu âm, em cảm thấy em muốn thả hồn theo điệu nhạc, và em nghĩ là múa cũng rất phù hợp Nên em có nói chuyện với cô Izabella Lewandowski,người cùng với partner Tomas, đã thắng rất nhiều giải khiêu vũ trên thế giới,và hiện là giám khảo chấm thi cho những chương trình khiêu vũ. Em học vài lớp với cô ấy, và sau những giờ đi làm mệt mỏi cả ngày,  em tập múa. Lúc múa thì cần một cái áo cho phù hợp khí sắc của bài nhạc nên em vẽ kiểu, chọn vải, chọn mầu, và tìm một nhà may thực hiện cho em, đó là Thái Nguyễn.”

 

Qua từng phần nhạc, y phục, tìm địa điểm, v..v.. Rồi sau đó Cecila lại dấn thân, mạo hiểm vào lãnh vực kỹ thuật quay phim. Chưa bao giờ có kinh nghiệm nên cô đã phải trăn trở nhiều với những thứ mà không am tường về phim ảnh mình sẽ không tưởng tượng nổi là kỳ công, và mất rất nhiều thời giờ.

 

“Có rất nhiều chi tiết mà mình không tưởng tượng ra, chỉ lúc bắt tay vào làm thì mới hiểu nổi. Rồi em lại phải sắp xếp công việc ở sở để  đi tìm cảnh quay, kiếm đội ngũ quay hình, sau khi quy xong lại phải bỏ hằng giờ xem lại từng thước phim, gạn lọc cho đến khi vừa ý để đúc kết thành một đoạn phim vừa ý. Em là một người được sinh ra lớn lên bên Việt Nam, nhưng trưởng thành ở Mỹ; Giấc mơ của em là tiếp tục tìm tòi, học hỏi, và công hiến một phần nho nhỏ của mình đến với Văn Nghệ Việt Nam của chúng ta. Qua quá trình đầu tay của em, em học hỏi và khám phá được rất nhiều ở chính mình, và thế giới xung quanh. Em muốn chia sẻ với mọi người, nhất là những bạn trẻ, là cho dù mình đã chọn hướng đi nào đi nữa, nếu mình có một ước mơ, hãy thực hiện ước mơ của chính mình; Mình sẽ cảm thấy cuộc sống của chính mình vui và phong phú mọi mặt.”

 

 

 

Ai Không Một Lần Mơ?

 

Cecilia mơ thật giản dị, đem tiếng hát của mình góp phần trong lãnh vực văn nghệ. Tôi liên tưởng đến lời giảng của thiền sư Nhất hạnh: “Lý tưởng lớn, hoài bão rộng là gì, nếu không phải là một giấc mơ? Trong đạo Bụt người ta dùng danh từ Tâm Bồ Đề. Tâm bồ đề đâu có phải chỉ là giấc mơ? Tâm bồ đề là một sự thật, một năng lượng mà ta đang sống và đang cho ta nhiều niềm tin và hạnh phúc. Giấc mơ có thể trở thành sự thật từ từ trong từng giây phút của cuộc sống. Mấy mươi năm nay, không lúc nào mà tôi không đang chứng kiến giấc mơ trở thành sự thật, trong đời sống hàng ngày của tôi.”

 

Ai mà chả có một giấc mơ? Có người ước có một số tiền lớn để tiêu với đủ mọi dự định cho số tiền ấy. Nào là mơ có một chiếc xe, ngôi biệt thự với đầy đủ tiện nghi, và những bữa ăn, những bộ đồ sang trọng. Có lẽ cái ước muốn đó sẽ đeo đuổi và hành hạ nhiều người không biết đến bao giờ nếu mình không bao giờ mơ được làm việc mà mình yêu thích, Cecilia đã đạt được giấc mơ rồi đấy…Một giấc mơ ngoan.

 

 

“Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi?

Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi?

Tình có ghi lên đôi môi

Sầu có phai nhòa cuộc đời

Người vẫn thương yêu loài người và yên vui cuộc sống vui.”

 

 

Lê Xuân Trường 

Ghi chú: Fragrance of Love (song of Vietnam- Cécilia Bach

hiện có thể order qua: iTunes, Amazon và Google

Quà Giáng Sinh và năm mới: Hộp Thông Minh (xem TV Việt Nam) tại các tiệm của người Việt
Saturday, December 14th, 2013

Quà Giáng Sinh và năm mới: Hộp Thông Minh

Đi tìm một món quà ý nghĩa giá trị trong những ngày cuối năm thời tiết lạnh suốt tuần lễ đầu tháng 12, cuối năm 2013,.

Mùa Lễ Giáng Sinh và Tết Dương Lĩch đã cận kề. Và còn hơn sáu tuần lễ để bước vào Tết nguyên đán. Năm nay sẽ nhằm ngày 31-1-2014. Để chuẩn bị cho Tết Giáp Ngọ, các Cộng Đồng như Tacoma, Olympia và Tết in Seattle đã chuẩn bị các chương trình đón mừng Xuân loan báo qua thư Bưu điện, email hoặc trên các trang sinh hoạt cộng đồng.

Quà tặng căn bản vẫn là bánh chưng, bánh tét được gói và bán từ nhà thờ và các chùa, đồng thời cũng được gửi bán tại các tiệm, nhà hàng. Theo lời chủ nhân Thùy Dương Music (ảnh trên) cùng với Quỳnh Hương cho biết “Ngoài các CD, DVD ca nhạc mới phát hành của hai trung tâm lớn, mỗi đợt phát hành bán được vài chục cuốn, phần lớn khách hàng mua để xem trong nhà hoặc làm quà tặng cho nhau. Những CD mới phát hành giá trên dưới $10 (nếu là ca sĩ hàng đầu thì cũng rất đợỡc hưởng ứng…” .
Theo lời chủ nhân Thùy Dương trong khu thương mại King Plaza nơi có đông đồng hương: ” người Việt tới mua băng nhạc, thẻ điện thoại, đồng hương còn rất chú ý tới món quà nổi bật mùa Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh năm nay, đó là “Hộp Thông Minh “ để xem TV các đài Việt Nam và các đài hay tại Hoa Kỳ và thế giới”.
Hộp Thông Minh là công ty với sự đóng góp sáng kiến của Nhạc sĩ Huỳnh Nhật Tân giới thiệu, có quảng cáo trên Nhật báo Người Việt, Người Việt Tây Bắc online … và một số Truyền Hình Việt trên toàn quốc…”

Ảnh chụp tại Thùy Dương Video trong khu King Plaza MLK nơi có trưnbg bày và quảng bá “Hộp Thông Minh”.

Người Việt tại Seattle tham gia công tác cứu trợ nạn nhân thiên tai tại Phi Luật Tân.
Tuesday, November 26th, 2013

Trong các ngày 22 và 23 tháng 11 cuối tuần vừa qua, một số tổ chức trong cộng đồng người gốc Việt đã “xuống phố” tham gia ủng hộ công tác cứu trợ nạn nhân thiên tai tại Phi Luật Tân tại Filippino Community Center, tại Tea Palace cũng như xuống đường đến các chợ và cơ sở thương mại của người Việt.

Ảnh: Các thành viên của “Tổ Chức Miss VietNam Washington-với trưởng ban tổ chức là Samantha Hoàng (thứ hai từ phải)

Trong lịch trình sinh hoạt được biết một số người gốc Việt đã đến Nhà Sinh Hoạt Cộng Đồng Phi Luật Tân tại Seattle có sự tham gia của Thị Trưởng Tân Cử Ed Murray. Một số khác đã mang tới tận thùng lạc quyên của thanh niên trẻ gốc Việt đến đứng trước các nơi có người qua lại đông đảo, điển hình như đoàn Phật Tử hoặc thanh thiếu niên thiện nguyện Bác Ái Phanxicô hoặc tham gia tình nguyện tại bàn đại diện Hội Hồng Thập Tự Seattle còn tiếp tục …

Nổi bật nhất là Hội Hoa Hậu Việt Nam đã thành công tốt đẹp qua đêm trình diễn Thời Trang gây quỹ giúp nạn nhân thiên tai..

Sang đến tuần tới, còn có một số tổ chức khác tiếp tục như: Hội Bác Ái PhanXicô… vẫn còn đang tiếp tục vào ngày 1 tháng 12 -2013 tại nhà hàng Jumbo 4208 Rainier Ave S Seattle Wa 98118 206-351-9939 và 206-234-7491. Mặt khác nhiều đồng hương đã gọi về Báo Người Việt Tây Bắc xin địa chỉ SBTN-TV để trực tiếp gửi về SBTN- TV Quận Cam… là 10501 Garden Grove Blvd , Garden Grove , CA 92843 (714) 636-1121

Những hình ảnh của Hội Hoa Hậu đã diễn ra thật nhiệt tình và sinh động có thể xem trên SBTN Seattle www.NVnorthwest.com
(photo Bảo Đôn: www.donaldpham.com)

Chương trình giá trị nghệ thuật: Ba nhạc sĩ trẻ danh tiếng Vân Anh và Hoài Phương và nhạc sĩ Lê Xuân Trường trong Lễ Tạ Ơn
Wednesday, November 20th, 2013

Ảnh Poster : đêm nhạc của Nhạc Sĩ Vân Anh,
có sự góp mặt của ca sĩ Bích Vân và NS Hoài Phương


Ảnh trên: Vân Anh bên cạnh nhạc sĩ Lê Xuân Trường (live Tours- Manager) Ảnh dưới: Vân Anh pha những ly rượu và trái cây chuẩn bị cho buổi họp mặt Lễ Tạ Ơn tại Orange County, trên trang báo NVTB)

Một đoạn clip của Vân Anh dành cho Truyền Hình SBTN-TV trong dịp trình tấu tại Seattle, tại đây cô đã chiếm được trọn vẹn cảm tình của một số người yêu nhạc gốc Á, cũng như một số thành viên của Célébrate Asia- Benaroya, bày tỏ niềm hãnh diện của thiếu nữ gốc Á: Vân Anh Nguyễn.

Lễ Tạ Ơn năm nay chắc chắn lại là mùa Lễ đáng nhớ của những người bay xuyên lục địa để gặp lại nhau như Vân Anh, Hoài Phương, Lê Xuân Trường trong đêm nhạc “thật thính phòng qua tiếng đàn quốc tế Vân Anh” tại Quận Cam-Cali…

Vào ngày 29-11-2013, mừng Lễ Tạ Ơn, trong chương trình Vân Anh Live Show. Trước đó trong đêm nhạc 50 năm Lê Văn Khoa, Vân Anh cũng độc tấu một vài ca khúc dương cầm. Sau ngày Lễ là đêm Célébrate Vân Anh có thêm sự góp mặt đặc biệt của ca nhạc sĩ Hoài Phương tại Lạc Cầm- quận Cam.

Đây là một chương trình được xem như một sự kiện – qua những giá trị nghệ thuật của các tài năng trẻ Hoài Phương, Bích Vân cùng sự xuất hiện bên cạnh nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng quốc tế: Vân Anh Nguyễn (Úc).

Những trang báo và truyền hình khắp nơi đã mang lại một hình ảnh hiền hòa duyên dáng và thu hút của Vân Anh, đại diện cho tài năng trẻ nổi bật gốc Việt tại hải ngoại.

Nhạc Sĩ trẻ đa tài và sáng tạo: Hoài Phương tại Mỹ

Riêng ca nhạc sĩ Hoài Phương đã nổi bật trên báo chí qua CD nhạc độc tấu saxophone đầu tiên của mìnhcũng như trong các buổi diễn…
Tiếng kèn của Hoài Phương với giai điệu tha thiết sâu lắng, đưa vào cõi mộng của những bài tình ca, nói bao nhiêu cũng không cùng, quyến rũ bởi vẻ đẹp dịu dàng của giai điệu, trong album “The Sounds Of Love” của nhạc sĩ Hoài Phương.” – theo lời của Nhạc sỹ Lê Xuân Trường, LXT Media, Inc. (Vân Anh’s Live Tours Manager)

Một điểm mạnh nổi bật của Hoài Phương khi có dịp diễn như một “khách mời” là cách trình bày những ca khúc nổi tiếng bằng Anh Ngữ một cách tự nhiên và điêu luyện với phong cách độc đáo riêng. Gần đây nhất Hoài Phương đã cho ra một đĩa single với bản nhạc Amazing Grace, My Chains Are Gone, một bản nhạc ca ngợi Đức Chúa Trời. Bản nhạc này đã được Hoài Phương trình diễn live trước hàng chục ngàn khán giả tại Đại Hội Thánh Mẫu tại Cathage, Missouri vào tháng 8 năm 2013.

Ảnh bìa một album mới của ca nhạc sĩ trẻ đa tài: Hoài Phương

Hoài Phương được sinh trưởng và lớn lên trong một gia đình âm nhạc tại VN. Việc cha là ca sĩ và mẹ là nghệ sĩ hát chèo đã sớm hướng anh vào sự nghiệp âm nhạc. Phương bắt đầu học nhạc khi mới lên 6 tuổi. Năm 11 tuổi Phương bắt đầu học kèn Clarinet. Năm 1989, Phương tốt nghiệp hệ Trung cấp và đỗ thủ khoa trong kỳ thi tuyển vào hệ Đại học chuyên ngành kèn clarinet. Trong những năm đại học, Phương đã cùng một số bạn bè thành lập một ban nhạc trẻ trong nhóm nhạc trẻ này, Hoài Phương giữ vai trò ca sĩ và nhạc sĩ kèn saxophone. Anh đã cùng nhóm nhạc của mình tham gia trong những hoạt động âm nhạc, mới đầu là cho sinh viên và sau đó trở thành chuyên nghiệp

Hoài Phương theo học âm nhạc tại đại học Hoa Kỳ để nâng cao trình độ âm nhạc từ năm 1995. Trong thời gian ở Đại học, Hoài Phương đã tham gia vào rất nhiều hoạt động âm nhạc của Mỹ, từ dàn nhạc giao hưởng tới jazz big band, từ blues, funk band đến Dixieland, lưu diễn khắp Hoa Kỳ và Âu Châu. Anh đã dành được nhiều phần thưởng và bằng khen cho thành tích biểu diễn suất sắc trong những cuộc Liên Hoan Nhạc Jazz do Hiệp hội Giáo dục Nhạc Jazz Quốc tế trao tặng. Ngay sau khi tốt nghiệp Cao Học, anh được mời giảng dạy tại trường đại học Snow ở tiểu bang Utah.

Mãi cho đến những năm đầu của thiên niên kỷ mới, Hoài Phương mới bắt đầu tham gia trong những hoạt động âm nhạc Việt. Kể từ đó, Phương đã liên tục xuất hiện với phần trình diễn kèn gỗ (saxophone, clarinet, flute, oboe, và sáo) trong nhiều cuốn CD và DVD do các trung tâm ca nhạc, băng dĩa lớn tại hải ngoại như Thúy Nga và Vân Sơn phát hành.

Trong cuốn “Paris By Night 79: Dreams” do Trung Tâm Thúy Nga thực hiện năm 2005, Hoài Phương lần đầu xuất hiện tại hải ngoại với tư cách là một ca sĩ trong nhạc phẩm “Chợ Đời” của ca nhạc sĩ Nhật Trung trong phần song ca cùng tác giả. Song cho đến lúc này, Hoài Phương vẫn chỉ thường được biết đến qua phong cách là một nhạc sĩ trẻ đa tài.

Cuối năm 2009, “Dáng Xưa”, album đầu tay của Hoài Phương đã đánh dấu một hướng tiến mới trong sự nghiệp âm nhạc của mình. Anh đã khẳng định cho mình một hình ảnh mới – một ca sĩ chuyên nghiệp-thực thụ, nhưng khác biệt với hầu hết các ca sĩ khác, Hoài Phương luôn gửi tới khán giả cả tiếng hát và tiếng kèn saxophone của mình. Màn trình diễn độc đáo của Hoài Phương đã luôn nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của khán giả khắp mọi nơi, từ Hoa Kỳ tới Canada, hay Âu Châu tới Úc Châu.

Sau 2 năm ấp ủ, album thứ hai của Hoài Phương “Tình Xa” đã hoàn thành. Đây là một dĩa nhạc vừa có những ca khúc cũng như những bản nhạc hòa tấu mà anh đã thực hiện phần lớn theo yêu cầu của khán giả. Những tình khúc bất hủ như “Chiếc Lá Cuối Cùng”, “Diễm Xưa”, “Niệm Khúc Cuối”, “Mười Năm Tình Cũ”… đã được anh làm tươi mới hơn với lối hòa âm hiện đại trong “Tình Xa”, tuy vậy người nghe vẫn cảm nhận được sự gần gũi quen thuộc của mỗi bản nhạc mà họ đã hằng yêu mến.
Xen kẽ với những ca khúc nổi tiếng đó là một số bản nhạc do chính Hoài Phương sáng tác. Những bản nhạc hòa tấu này mang phong cách world music với sự hòa trộn tinh tế của ảnh hưởng âm nhạc bốn phương sẽ tạo cho thính giả một cảm giác thư giãn dễ chịu nhẹ nhàng bay bổng.

Ngoài những ca khúc và nhạc phẩm hòa tấu do chính anh sáng tác trong hai album “Dáng Xưa” và “Tình Xa” của mình, những sáng tác của Hoài Phương cũng được những ca sĩ hàng đầu của hải ngoại chọn để thu thanh, trong đó có Trần Thu Hà, Minh Tuyết, Quỳnh Vi, và Bằng Kiều. Về hòa âm phối khí, Hoài Phương có một phong cách rất riêng. Với ưu thế là khả năng chơi được rất nhiều nhạc cụ và bề dày kinh nghiệm với nhiều thể loại nhạc và dòng nhạc khác nhau, Phương luôn tìm được một sự phối hợp hài hòa giữa âm nhạc Đông phương và Tây phương, giữa funk với dàn nhạc giao hưởng, giữa jazz với điện tử, v.v… Gần như tất cả những phần nhạc cụ trong Dáng Xưa và Tình Xa đều do Hoài Phương đảm trách. Anh cũng chơi hầu hết những nhạc cụ cho những phần hòa âm mà anh đã làm cho Trung Tâm Thúy Nga, Trung Tâm Vân Sơn cùng với nhiều ca sĩ khác.

Sự kiện đáng kể, là gần đây Hoài Phương đã được mời làm giám đốc chương trình âm nhạc cho chương trình “Paris By Night 102″: Nhạc yêu cầu Tình ca Lam Phương của Trung Tâm Thúy Nga. Trách nhiệm của Hoài Phương là hòa âm phối khí cho đa số những bản nhạc cho chương trình và chỉ huy dàn nhạc gồm 16 nhạc công. Đây là một chương trình được thu trực tiếp cả hình lẫn tiếng nên trọng trách của nhạc trưởng Hoài Phương thêm quan trọng. Và Hoài Phương đã đón nhận được rất nhiều lời khen ngợi của khán giả và đồng nghiệp từ khắp mọi nơi trên thế giới.
Sau khi nhận được rất nhiều ủng hộ yêu cầu của khán giả, Hoài Phương cho ra đời tiếp CD nhạc độc tấu đầu tiên của mình: “The Sounds of Love” (Giai Điệu Tình Yêu).
Trong CD này Hoài Phương đã cống hiến những bảnhạc Việt được yêu thích nhất do Hoài Phương chọn từ những yêu cầu của khán thính giả, bao gồm những nhạc phẩm kinh điển như: “Tuổi Đá Buồn”, “Lệ Đá”, hay những tình khúc trẻ trung như: “Ước Gì”, “Trái Tim Bên Lề”, bên cạnh “Đêm Lao Xao” và “Tiếng Mưa Đêm”.
Đặc biệt trong CD này Hoài Phương đã dành cho người nghe sự bất ngờ bằng một liên khúc bao gồm 8 nhạc phẩm để đời: ” Mùa Thu Chết”, Nói Với Tôi Một Lời”, Yêu Người Yêu Đời”, “Tình Khúc Chiều Mưa”, Nỗi Lòng Người Đi”, “Đón Xuân”, “Thành Phố Buồn”, “Chiều Một Mình Qua Phố”, Liên Khúc “The Sounds of Love”, như một cuốn phim nhỏ dẫn dắt người nghe đi qua một bức tranh âm nhạc mà từng bản nhạc trong đó có lẽ “đã là người Việt Nam thì không mấy ai… không yêu thích”


Tiêu Biểu cho đóng góp của nghệ sĩ người gốc Á tại Hoa Kỳ

Giọng hát và tiếng kèn của Hoài Phương càng ngày càng được giới thưởng ngoạn đánh giá cao hơn. Trong khi nhạc sĩ dương cầm Vân Anh Nguyễn đã đi trước với nuhiều chào đón rất hãnh diện cho Việt Nam và cả Á châu nữa. Hiện tượng trẻ trung và tài năng của thế hệ kế tiếp như Vân Anh Nguyễn, như Hoài Phương rất đáng mừng, vì đó là yếu tố chính mang hai người nhạc sĩ trẻ gốc Việt trong số nhiều nhân tài trẻ gốc Việt khác đã và sẽ là những đại diện cho nhân tài âm nhạc của cộng đồng gốc Á.

Vài năm qua, cả Hoài Phương cũng như Vân Anhtrong các buổi trình diễn hẳn nhiên đã để lại ấn tượng tốt đẹp tại nhiều thành phố lớn Âu, Á và dĩ nhiên cả Seattle qua chương trình nhạc Quốc Tế Celebrate Asia- Đại Hý Viện Benaroya hàng năm ./.

Tổng hợp tin
www.nvnorthwest.com

CD mới của Y Phương “Tình Vẫn Thiết Tha” quảng cáo “bán” trên Amazon, Apple, Google và iTunes…
Wednesday, November 13th, 2013


Gần đây, khi đi tìm các bài hát và CD, người tìm thấy nhạc lời Việt “post” trên mạng Amazon với hình ảnh CD mới mang tên: “Tình Vẫn Thiết Tha” của ca sĩ Y Phương.

Nếu giới thưởng ngoạn từng biết đến iTunes hoặc quen download từ Google thì qua thị trường mua bán thời đại qua Amazon, iTunes v.v… mỗi ngày thính giả, người yêu nhạc lại càng tìm thấy chất lượng cao của âm nhạc một cách nhanh chóng và giản dị hơn bao giờ hết…

Gần đây trên mạng Amazon đã có quảng bá thường trực CD mới “Tình Vẫn Thiết Tha” của ca sĩ Y Phương.

Vài năm qua, trên Amazon trong danh mục vẫn chưa có mấy ca sĩ Việt Nam trong list ” rao bán nhạc“…

Gần đây hình ảnh ca sĩ Việt được quảng bá trên danh mục của Amazon đã có CD “Tình Vẫn Thiết Tha”, một album nhạc tình muôn thuở chuyển ngữ lời Việt của Y Phuong Productions chọn lọc những ca khúc hay, được yêu chuộngg và giá trị… Từ classical tới New Age, từ Ánh Đèn Màu- Limelight (1954), If You Go Away, Autumn Leaves, Besame Mucho… , cho tới những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt đặc sắc cũng do một số nhạc sĩ Việt viết lời Việt trong khoảng ba thập niên qua… như “Tình Vẫn Thiết Tha”

Như vậy, Amazon đã mang lại sự tiện dụng order cho những người yêu nhạc khắp năm châu khi có nhu cầu thưởng thức nhạc, đa số là các bạn trẻ gốc Việt nay đã rất quen thuộc với phong cách tìm kiếm nhạc qua internet, và có cả một số đáng kể các đồng hương trung niên cũng muốn được có ngay một dĩa nhạc đẹp, đầy công trình nghệ thuật, từ nay đã có sẵn, tiện lợi theo phong cách và trào lưu tuổi trẻ qua Amazon, Apple, và Google cũng như iTunes. Những link này có thể tìm thấy dễ dàng hơn qua YPhương Nguyen Face Book (có liệt kê bên dưới).

Ảnh giữa bài: Bìa CD “Tình Vẫn Thiết Tha” của ca sĩ Y Phương” trên trang mạng Amazon, với list nhạc 10 ca khúc danh tiếng và lãng mạn có thể order qua Amazon hoặc download qua: Google play, qua App Store và iTunes…

- iTunes
https://itunes.apple.com/us/album/tinh-van-thiet-tha/id741270507

- Google Play:
https://play.google.com/store/music/album/Y_Phuong_Tinh_Van_Thiet_Tha?id=Bqf2sljgnzbmiuaennin6dtqb3q

- Amazon MP3:
http://www.amazon.com/gp/product/B00GKGCM5O/ref=dm_sp_alb?ie=UTF8&qid=1384289380&sr=8-2

hoặc order qua: Phuong Nguyen: P O Box: 753203 Houston, TX 77275

Department of Neighborhoods: Celebrates 25 Year Anniversary Gala
Monday, October 28th, 2013

Mayor McGinn (right), & Department of Neighborhoods- Director Matsuno toast glass to celebrate 25 years.

Music, Display, food & Dance last Friday Oct-23-2013 from 6pm to 10pm to celebrates 25 Year Anniversary at MOHAI Museum in Seattle

Neighborhood Districts & District Councils (13 neighborhood districts are Ballard, Central, Delridge Neighborhoods, Downtown Seattle, East, Greater Duwamish, Lake Union, Magnolia/ Queen Anne, North, Northeast, Northwest, Southeast, Southwest) based on the 1987 Seattle City Council resolution to promote , support, and involve citizen participation at the neighborhood level

Approx 400 guests showed up. The guest list featured city council members, Mayor McGinn, Neighborhoods Director Matsuno, and other representatives from different the departments.

Photos: Director of Seattle Department of Neighborhoods, Bernie Agor Matsuno with Mayor McGinn.

VABAW raises money for Hong Duc scholarship
Friday, October 25th, 2013

Michelle Q Pham (left), incoming president, Karin Phu, Board Memeber
and Binh Nguyen, president

by Julie Pham

VABAW, 9th annual gala Oct. 22, Triple Door, about 120 people came, theme “Redefine Tradition” , raise money for Hong Duc scholarship

[gallery]

Kim Tran, winner of the president award.

“Very honored and humbled. I served on the VABAW board in 2007. Back then, we had a vision, a dream of what it could be and now we’ve realized that dream. It’s wonderful to see. I’m interested in having a judicial career. It’s important to have judges from different perspectives, the perspective of an advocate. We need the bench (the judge’s chair) to reflect our community.”

Michelle Pham, incoming president

“Kim has done a lot of great work in the community, started a diversity conference. W want to recognize her for her work and efforts.”

Wendy Duong

“This is the second time I am a speaker for VABAW. The first time I came here was in 2007. This year’s theme is about redefining traditon, but you have to understand your tradition before you can redefine it. The ultimate goal is to have the best of both worlds. As requested by VABAW president elect, I will also give advice to younger lawyers on how to build a legal career.”
” Law is my profession, art is my vocation.” “My only inheritance from my parents is my love for learning (nói tóm lại, gìn giữ truyền thống để định nghĩa lại truyền thống tức là giữ lại ý niệm: Noi gương và không thua kém tiền nhân)

Binh Nguyen, president

This year we tried to focus on projects that were closer to the interest of the board members and to create a stronger structure for the government. We are focusing on where we can have the greatest impact.”

KEYNOTE SPEAKER: WENDY NICOLE DUONG

Ms. Duong is a former Magistrate Judge for the State of Texas, 2011-2012 US Fulbright Scholar, law professor at the University of Denver, and award-winning author and artist. She spent 18 years as a federal litigator and currently owns her own boutique law firm handling a multi-jurisdictional and international offshore practice.

ENTERTAINMENT

The return of the Fashion Show by noted designer Thai Nguyen, featuring the modern interpretation of the traditional Vietnamese “Ao Dai.” Mr. Nguyen is a former designer for BCBG Max Azria, finalist on Bravo’s “Launch My Line,” and designer of choice for prominent Vietnamese entertainment production companies. His company, Thai Nguyen Couture, offers romantic and ethereal designs inspired by his Vietnamese heritage.

2013 PRESIDENT’S AWARD RECIPIENT: KIM TRAN

Ms. Tran is a VABAW luminary who exemplifies dedication to the profession and the community. VABAW is inspired by Ms. Tran’s work, leadership, and is proud to honor her at this year’s banquet.

2013 HONG DUC CLERK: OANH LE HOANG

This year’s Hồng Đức Clerk is Oanh Le Hoang, a student at the University of Washington. Le spent her 2013 summer at Hogan Lovells in their Ho Chi Minh City, Vietnam, office. Prior to starting law school, Le worked as an intern, technical analyst, and, eventually, a client service associate at Russell Investments where she helped translate investment documents to and from Vietnamese. She is fluent in Vietnamese and has a strong connection to the Seattle community.

(www.nvnorthwest.com)

Seattle: 10/23/2013-WIN! Event: Q & A – Book Reading with author Wendy Duong
Friday, October 11th, 2013

NAAAP-Seattle hosts Q & A with Ms. Wendy Duong, the first Vietnamese American to be appointed as associate judge and Magistrate Judge for the State of Texas (presiding in Houston), 2011-2012 US Fulbright Scholar, law professor at the University of Denver, and award-winning author and artist. She authored a Historical Fiction, “Daughters of the River Huong” a Vietnamese royal concubine & her descendants. Free to NAAAP-Seattle members and their guests. Both men and women are welcome to attend. Food and drink sponsored by Thang Long Restaurant (Skyway- Bowling).

Time: 6:30-8pm

Date: Wednesday, Oct. 23

Place: Thang Long Restaurant (inside Skyway Park Bowl), 11819 Renton Ave S, Seattle WA 98178

RSVP: Julie.pham@naaapseattle.org by Tuesday, October 22.

Kim Pham: nvtbraovat@aol.com: 206-723-4666

206-359-0605 email: nvtbraovat@aol.com

The event sponsor by NAAAP & Dr Nguyễn Xuân Dũng, president of Vietnamese Americans Community in Tacoma, Phuong Dong Times, Northwest Vietnamese News & SBTN-TV

Dương Như Nguyện giới thiệu tác phẩm mới tại Seattle- Washington
Wednesday, September 25th, 2013

Buổi Giới thiệu tác phẩm và nói chuyện của tác giả và bạn đọc được tổ chức “trong không khí thân mật” như buổi hội ngộ ra mắt tác phẩm được liên tiếp tổ chức tại Olympia TB Washington và San José- Cali. Tại Olympia WA là chiều thứ Năm 26 tháng 9-2013, và tại Seattle vài tuần sau đó vào chiều thứ Tư 23-10-2013.

Theo thư mời phổ biến rộng rãi mời mọi giới đồng hương và độc giả Mỹ có thể tham dự “cuộc họp mặt nhỏ”, do nhóm thân hữu Hội Chuyên Gia Mỹ Gốc Á NAAAP Seattle đứng ra tổ chức và mời dưới hình thức họp mặt Q&A và nghe tác giả giới thiệu các tác phẩm bằng Anh ngữ và việt ngữ, cũng như chụp hình kỷ niệm..

Buổi họp mặt được tổ chức vào lúc 6giờ 30 chiều Thứ Tư 23 tháng 10-2013 tại nhà hàng Lucky Dragronz (Thăng Long) tại 11819 Renton Ave S Seattle WA 98178
Xin liên lạc NAAAP qua 206-723-4666 để giữ chỗ tham dự buo673i tiếp tân và giới thiệu hai tác phẩm giá trị của nhà văn và cũng từng là cựu chánh án Dương Như Nguyện.

Ngoài những tác phẩm mới viết bằng Anh ngữ, trước đây nhà văn Dương Như Nguyện từng có những tác phẩm gây tiếng vang khác như: Mùi Hương Quế, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ ấn hành tại Hoa Kỳ. Một tác phẩm khác được nhắc nhở nhiều đó là: ” Người Con Gái Sông Hương”.

Nhà văn Dương Như Nguyện có khá nhiều tài, như ca nhạc, hội họa viết văn song ngữ… Nghề chính của cô là lãnh vực luật hiện cộng tác với các đại học danh tiếng Hoa Kỳ trong các chương trình cố vấn, hội thảo, giảng dạy các chủ đề về luật pháp, không chỉ tại Hoa Kỳ mà cả tại một vài quốc gia vùng Đông Nam Á.

Ambi Subramaniam Performing in Seattle
Friday, September 20th, 2013

At Town Hall on September 13, Dr. L. Subramaniam, “India’s violin icon” performed a violin duet with his son Ambi Subramaniam, proclaimed the “New King of Indian Classical Music” at age 16 by the Times of India.

They were accompanied by percussionists Mahesh Krishnamurthy and Ravi Balasubramanian. The crowd 600 people listened intently to the world famous duo, who are on an international tour. Vedic Education & Development Academy organized the concert.

[gallery]
Seattle : 3 organizations working together to address the needs and economic opportunities in the MLK Business Districts.
Friday, September 20th, 2013

MLK Business Association Board Chair: Julie Pham
As Board Chair, Dr Julie Pham implemented strategies to support the small businesses on the Martin Luther King Jr. Way South impacted by the Light Rail construction. Julie is also managing editor of Nguoi Viet Tay Bac – the Northwest Vietnamese News. She founded Sea Beez, a capacity-building program for local ethnic media. As the PR/Marketing chair for Seattle’s NAAAP which led the organization’s PR/Marketing program to a first place finish in NAAAP National Convention. Dr Julie Pham was named on the “40 under 40” business leaders list by Puget Sound Business Journal in 2011and voted as an innovator in Verizon Wireless Asian Pacific American Heritage Community Roast Awards.

Banner Cross President: Skip Rowland
Dr. Roland has over 35 years of experience assisting businesses in developing increased profits. He worked with the downtown Chamber of Commerce, formally known as the Greater Seattle Chamber of Commerce, the Seattle City Council, MLK Business Association and other ethnic chambers of commerce throughout the Greater Seattle business region.

Dr. Rowland has partnered with MLK Business Association to identify ways of improving visibility and profits for businesses along the MLK corridor. His extensive knowledge in business management, education and multicultural studies will aid in identifying potential opportunities for the Association to assist business owners in increasing its customer base.

Rainier Valley Community Development Fund Business Coach: Jennifer Tam
Jennifer Tam is a business case manager at the Rainier Valley Community Development Fund, a non-profit organization that provides affordable alternatives to traditional bank loans for businesses and commercials real estate development in the Rainier Valley.

MLK Business Association, Banner Cross and Rainier Valley Community Development Fund are working together to address the needs and economic opportunities in the MLK Business Districts. The final report will be made available to the public upon completion.

Nhạc Sĩ trẻ Ambi Subramanian và Master Subramanian Performing in Seattle Town Hall 9-13-2013
Sunday, September 15th, 2013

Hai Nhạc Sĩ Vĩ Cầm Danh Tiếng Ấn Độ cha và con dòng họ Subramanian đã có mặt trong buổi diễn tại Rạp Town Hall của Thành phố Seattle tại 1119 đường số 8th Ave Seattle, WA 98101 từ 8 giờ tối Thứ Sáu 13 tháng 9 vừa qua

[gallery]

Với số chỗ ngồi trong Rạp để sắp xếp chỗ ngồi và vòm cung cổ kính đã giũ được âm thanh cô đọng, mà khoảng 700 khán giả đã giữ được không khí trân trọng mọi người thật yên lặng lắng nghe. Chương trình kéo dài gần 3 giờ đã qua đi thật nhanh với các tiết tấu và âm thanh từ âm nhạc Ấn Độ với hai vĩ cầm song tấu, và hai loại trống truyền thống cổ truyền của Ấn Độ. Một số quan khách thuộc Celebrate Asia và đại diện Ethnic Media (SeaBeez) và một hai quan sát viên trong giới truyền thông Hoa Kỳ số còn lại hầu hết là cộng đồng Ấn Độ, trong trang phục truyền thống
Cha và con dòng họ Subramanian hiện là những nhạc sĩ vĩ cầm trình diễn rất nổi tiếng từng được mời trình diễn vào đầu năm 2013 tại Đại Hý Viện tân kỳ nhất của thành Phố Seattle. Trong Đại Hội Celebrate Asia hàng năm, các nghệ sĩ từ các cộng đồng được mời trình diễn là cả một vinh dự dành cho nền văn hóa của từng cộng đồng Á Châu trình diễn trước sự theo dõi và hoan nghênh trên khắp thế giới.
Rạp Town Hall của Thành phố Seattle chuyên chú tới cộng đồng, Văn Hóa, Khoa Học, Văn Học Nghệ Thuật Trình Diễn. Các buổi trình diễn văn học nghệ thuật thường xuyên nghệ chỉ dành cho hội viên, hoặc các sinh hoạt mang tính văn hóa ./. .

(photos: Julie Phạm)

Lê Xuân Trường, Y Phương-Thanh Bùi: mang nhạc lời Việt vào thế giới I-Tunes và Amazon (Nhạc ngoại quốc soạn lời Việt)
Friday, September 13th, 2013

(ảnh trên Lê Xuân Trường (trái) và Thanh Bùi, là một trong số những nghệ sĩ gốc Việt tham gia quảng bá dòng nhạc lời Việt
trên I-Tunes và Amazon trong năm qua
)

Dòng nhạc đầu tiên đến với đời tôi 37 năm trước đây, như điềm báo trước cho số phận của một cuộc đời. Cho đến bây giờ, tôi vẫn tưởng như mới đâu đây, tưởng chừng như ngày hôm qua…

Tình yêu cho phép những ca khúc ra đời. Nỗi đau và niềm hân hoan làm thành bào thai sinh nở ra âm nhạc. Âm nhạc như thế là tình yêu, là trong bản thân nó hàm chứa một cõi nhân sinh bề bộn những khổ đau và hoan lạc. Không có bất hạnh và nụ cười có lẽ âm nhạc cũng không thể có duyên ra đời.”

Ca khúc “Hỏi Thế Có Buồn Không” đầu tiên đến với đời tôi 37 năm trước đây, lang thang lăn lóc cưu mang thân phận tha hương tại trại tị nạn Ga Lang như điềm báo trước cho số phận của một cuộc đời. Cho đến bây giờ, tôi vẫn tưởng như mới đâu đây, tưởng chừng như ngày hôm qua…

Sao tim bỗng nghe nhói đau,
Việt Nam chưa qua
Ngày dài xót xa, dòng lệ vẫn rơi, nụ cười hắt hiu, tình người cách xa
Cha tôi chết không áo quan, ở chốn thâm sâu
Mẹ thì mất con, người thì đã theo biển vào đáy sâu, chẳng còn thấy nhau
Quê hương đã sinh lớn tôi
Hạnh phúc hôm nay
Trẻ nhỏ cách xa học đường đã lâu, tìm vội miếng cơm, học lừa dối nhau
Hỏi thế có buồn không?

37 năm qua, thoáng như một giấc mộng du. Một quãng thời gian hơn một phần tư thế kỷ tôi chỉ biết ghi lại những cảm xúc của mình qua thơ văn, âm nhạc…để giữ lại khoảnh khắc của những rung động trong đời. Vì sau này, dù cho mình sẽ không còn hiện hữu nơi đây, thì tác phẩm của mình vẫn còn đó, giữa trần gian này, khi sự sống trên trái đất còn hiện hữu… Sau những thiên cơ xẩy ra ở khắp mọi nơi, tuổi càng ngày càng lớn, tôi thấy cuộc đời rất hư vô. Trong tích tắc, tất cả có thể trở thành cát bụi. Có tranh chấp, oán hờn, đua ghen thì cũng thế. Điều tốt nhất là ngày nào còn cho nhau nụ cười, cho nhau sự chia sẻ là quý ngày đó. Tôi đã trải qua biết bao nhiêu nhẫn nhục, phấn đấu, học hỏi, nuôi dưỡng trái tim mình, bằng những sáng tác đã viết lên, và đó cũng là hạnh phúc đích thực của chính tôi. Tôi đã thật sự diễm phúc, khi gởi gấm được niềm hạnh phúc hay nỗi bất hạnh của mình vào trong âm nhạc, và được chia sẻ tâm sự của mình đến với tất cả mọi người.
Năm 1995 – Tôi thực hiện album “Mưa Trên Vùng Tóc Rối” gồm những bản tình ca của tôi được thể hiện với tiếng hát của Tuấn Ngọc và Thanh Hà. Album đầu tiên này kể từ đó tôi đã vẫn chưa thực hiện một album nào khác vì lẽ tất cả những bài hát của tôi đã được xuất bản trên CD hay DVD của Thúy Nga rồi, nghĩ thế, tôi chả bao giờ thực hiện CD riêng cho mình nữa. Gần đây, có nhiều thúc đẩy, phần nhiều từ các nhạc sĩ đàn anh như Tuấn Khanh, Lam Phương…cứ nói, đứa con tinh thần mình tạo ra lúc nào cũng là đứa con nhiều tình cảm tích lũy, nhiều khổ đau đong đầy… các fans của tôi từ bao năm nay cũng chờ mong, thăm hỏi nên có lẽ sắp tới tôi sẽ thực hiện album thứ hai của mình. Thật sự thực hiện CD bây giờ chỉ cho vui, đánh dấu một kỷ niệm của dấu mốc thời gian trong sự nghiệp, chứ thật ra làm cực và tốn kém, sau đó, bị copy từ internet và truyền tay nhau miễn phí, cũng chả khác nào bị ăn cắp tư tưởng và cả vật chất nữa.
Tôi là người sáng tác ca khúc, viết nhạc và lời. Tôi cũng là người mê sưu tầm nhạc ngoại quốc, và nghe nhạc ngoại quốc đã cho tôi nhiều ý tưởng mà theo như văn hóa Việt Nam vẫn còn rất nhiều eo hẹp tư tưởng để biến ca khúc trở thành nhiều nét đa dạng. Cộng tác với Thúy Nga từ năm 1995 cho đến nay, ngoài những sáng tác nhạc và lời riêng của tôi; Tôi đã viết rất nhiều lời Việt cho những ca khúc ngoại quốc. Tôi không nhớ chắc chắn là sáng tác được bao nhiêu bài, nhưng tôi viết nhiều lắm. Tôi viết lời rất dễ, mà ý tưởng không bao giờ bị trùng lập, đó cũng là một cái duyên trời cho. Tôi yêu những ngôn từ cho nên khi viết lời nhạc, tôi hay dùng những từ ngữ tự sáng chế cho riêng mình (signature) để tạo ra một dấu ấn riêng. Có những bài thật khó mà khi hát tiếng ngoại quốc thì rất dễ mà khi viết lời Việt thì rất khó vì tiếng việt có dấu và có những âm sắc khác nhau nếu viết không khéo, chữ sẽ bị vặn vẹo qua một nghĩa khác, và phát âm sẽ bị ngượng ngịu. Có thể điển hình là bài “The House Of Rising Sun” của ban nhạc Animal, với tựa đề “Ngôi Nhà Trong Ánh Bình Minh” do ca sĩ Ngọc Ánh trình bầy trong DVD số 53 của Thúy Nga với chủ đề Thiên Đường Là Đây, hay là bài “Je Suis Malade” lời Việt là “Không Cần Nói” mà Angéla Trâm Anh trình bầy trong DVD số 82 (nghe trên www.NVnorthwest), và còn nhiều bài nữa.
Sắp tới sẽ có 2 tác phẩm – một là album gồm những bài tình ca nhạc và lời của tôi, trình bầy bởi tiếng hát của Nguyệt Anh. Hai là album của Khánh Hà. Suốt gần 2 năm thực hiện cũng đã coi như gần xong – Album gồm những bản tình ca nổi tiếng thế giới với lời Việt do tôi viết riêng cho Khánh Hà và album này có thể ra mắt quý thính giả yêu tiếng hát Khánh Hà vào dịp cuối năm nay. Có thể nói tổng quát là album này tôi vừa ý nhất trong quãng thời gian sáng tác. Phần hòa âm, cho đến lời, và tiếng hát của Khánh Hà thật đậm đà, nồng nàn với cách phát âm rất rõ ràng và chính xác mà 40 năm qua, Khánh Hà đã hội đủ những yếu tố như vậy để trở thành một trong những giọng ca được mến chuộng nhất. Album này là “Nhạc Tình Muôn Thuở” tiếp nối với loạt series mà trước đây Khánh Hà Production đã thực hiện mà giới yêu nhạc ai cũng phải sưu tầm đầy đủ cho tủ nhạc của riêng mình.

Ý nghĩa đơn thuần nhất trong nghệ thuật, thường khởi nguồn từ một niềm trân trọng và nâng niu trong tư tưởng của mỗi cá nhân đối với chính linh hồn và con tim mình. Những người yêu dòng nhạc của mình, họ cho những ca khúc là niềm hạnh phúc đón nhận từ tác phẩm những chấn động tâm linh thật sâu đậm, những thoát thai của tư tưởng về các biên giới chưa từng, những đỉnh cao hay vực sâu của ý thức. Còn người sáng tác ra những ca khúc ấy, hạnh phúc là ký thác vào tác phẩm của mình những đầy vơi của cội nguồn rung cảm, những đáy huyệt của mặc niệm tư duy, những cơn bão cuồng điên cuối chân trời khát vọng. Tôi yêu và sống chết với nghệ thuật, không thể thiếu; tôi thường ví có thể nào trẻ thơ sống bên ngoài lòng mẹ? Cám ơn âm nhạc, văn chương và những thứ chung quanh đời sống này đã cho tôi cảm xúc tràn ắp khi viết lại chính những gì đang rất yếu mềm nơi khúc tâm hồn tôi đây. Tôi nghiêng mình trước những điều thuộc về cõi tâm hồn và trái tim của người nghệ-sĩ, biết yêu thương và yêu thương nhiều như tháng cùng năm của tất cả loài người!

Lê Xuân Trường

(ảnh trên Lê Xuân Trường (trái) và Thanh Bùi, là một trong số những nghệ sĩ gốc Việt tham gia quảng bá dòng nhạc lời Việt
trên I-Tunes và Amazon trong năm qua
)

50 năm “nhạc Trẻ” và Tạp Chí “Trẻ” góp mặt tại hải ngoại: Từ báo giấy, Website, băng nhạc tới “download nhạc” Google, Amazon, I-Tunes
Thursday, September 12th, 2013

(ảnh trên: Lê Xuân Trường (phải) cùng Thanh Bùi
thực hiện thành công nhiều dự án ca nhạc nổi bật) (1)

(NVTB News) Trong lúc cho phổ biến poster quảng bá lên trang web về buổi hội ngộ 50 năm nhạc Trẻ (Việt Nam) và kỷ niệm 18 năm góp mặt Tạp Chí Trẻ Kỳ Phát, một số tác giả góp công sức trong dòng nhạc này chợt về trong trí nhớ và hồi tưởng từ sau 1963: Phạm Duy, Vũ Xuân Hùng, Nam Lộc, Kỳ Phát, Lê Toàn, Lê Xuân Trường, Tuấn Dzũng, Nguyễn Duy Biên. Từ sau 1975 lại có thêm nhiều các ca khúc ngoại quốc chuyển lời Việt xuất hiện trên các sân khấu và DVD ASIA, Mây Production, Thúy Nga-Paris By Night..v..v… và gần đây nhất chương trình “Một Thời Âm Nhạc” của SBTN đóng góp, nhắc nhớ đến những tên tuổi nghệ sĩ tài hoa một thời như về ngập đầy trang … ký ức và hồi tưởng.

(ảnh trên: Y Phưong tiếp nối các ca khúc ngoại quốc chuyển lời Việt
thực hiện qua dự án ca nhạc download: I-Tunes, Amazon, Google)

Như một tin vui hội ngộ được loan truyền nhanh chóng của những người bạn một thời cùng với những người yêu 50 năm nhạc Trẻ (VN) bao gồm nhạc sáng tạo mới, trẻ trung hóa gồm nhạc ngoại quốc chuyển lời Việt, nhạc Việt lời Pháp, Anh, Nhật… nhạc Việt mang tính kích động nhạc, nội dung chuyển hướng mới .. v.v.., những người muốn hồi tưởng một thời âm nhạc Việt Nam trong suốt gần nửa thế kỷ qua…

Nhạc Sĩ Kỳ Phát và Trẻ Magazine

Phỏng vấn trưởng ban tổ chức qua điện thoại và email, được nghe Kỳ Phát kể về phong trào nhạc ngoại quốc lời Việt:
Huỳnh Kỳ Phát có làm lời Việt cho rất nhiều bài lời Việt trước và sau năm 1975. Đa số các bài hát này được thu băng nhạc và bán cho nhà phát hành Minh Phát in nhạc lẻ, bán cho nhà phát hành Hiện Đại in thành từng tập nhạc tại Saigon trước 75.
Kỳ Phát cho biết từng thực hiện băng nhạc Trẻ cùng với nhạc sĩ Ngọc Chánh từ cuốn Nhạc trẻ số 2 đến cuốn số 7. Nếu so với Trường Kỳ, Nam Lộc, Tùng Giang, Vũ Xuân Hùng thì có lẽ Kỳ Phát là người may mắn thực hiện nhiều băng nhạc trẻ nhất. Trường Kỳ thực hiện được một cuốn: tên ”Nhạc Hồng”, Nam Lộc và Ngọc Chánh được hai cuốn, sau khi Kỳ Phát ra làm trung tâm riêng, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã mời Nam Lộc vào thế. Tùng Giang có thực hiện tới bẩy cuốn, Vũ Xuân Hùng thực hiện ba cuốn Tình Ca Nhạc Trẻ (trong những năm 1970s). Cũng không thể thiếu sót hàng loạt chương trình nhạc trẻ không lời thu cátsét như Anna (tiền thân của Thúy Nga Paris by Night ngày nay trong vài năm trước biến cố 1975) với trên 21 cuốn cátsét bán rất chạy vì được yêu chuộng, và khoảng trên năm cuốn cátsét mang tên “SàiGòn”, rồi đến Hồn Hoang của Thành-Hiện Đại… (3)
Đó là giai đoạn đặc biệt trong dòng nhạc Việt, phỏng theo ý bài viết của một cựu ký giả trước 1975: “vào thời điểm đó Bộ Thông Tin kiểm duyệt dòng nhạc không thích hợp với tuyên truyền cho cuộc chiến đấu. Tránh tinh thần ủy mị, không nói lên được vai trò Hậu Phương ủng hộ Tiền Tuyến… và theo lời Nhạc Sĩ Phượng Vũ, anh ruột của nhạc sĩ Khúc Lan nói: “đó là giai đoạn chính quyền không cho hát nhạc ngoại quốc (trên làn sóng đài phát thanh và Truyền Hình, và cũng sau 1963, các vũ trường được mở cửa hoạt động trở lại, cần có thêm nhiều nhạc bổ sung vào dòng nhạc phổ thông sẵn có.
Nhiều dòng nhạc đã nở rộ, kể cả nhạc “Du Ca”, tranh đấu ca, nhưng một cánh đồng phì nhiêu mới khai hoang, thật là một không gian mở ngỏ để dòng nhạc “Trẻ” ngoại quốc lời Việt như “Yesterdays” trên thế giới chuyển ngữ có tới cả 3,000 bản chuyển ngữ chiếm ngự người Việt nghe và hát..
Và cả ca khúc “The House Of The Rising Sun”, “Bésame Mucho”, “Love Is Blue” (và hàng loạt của Paul Mauriat) lại có cơ hội ra đời, lừng lững đi vào làng âm nhạc Việt mà không có gì cản trở.. “
Đó là những ca khúc phản chiến như “Make Love Not War”, “Let It Be”, “Imagine” của The Beatles, cho tới dịu dàng “hòa bình” sau này như “Đồng Xanh” của Brothers Four, như “Le Temps Des Fleurs”- Mary Hopkin (4)

Từ làn sóng đầu tiên “lấn sân”trong làng ca nhạc có cả sự tham gia của một nhạc sĩ có tên tuổi lớn: nhạc sĩ Phạm Duy, (với Tiễn Em Ra Phi Trường, Giàn Thiên Lý Đã Xa, Chúa Nhật Xám, Chuyện Tình) “Donna-Donna” (Tuấn Dũng) đã tiên phong tiến vào “không gian” bỏ trống này. Thực ra nhạc chuyển ngữ lời Việt có từ trước đó rồi chứ, từ 1956 Tài Tử Ngọc Trai (gốc Cần Thơ) đã từng hát: Gondolier (Dalida), “Bambino”, “Rose de Chine”, và một số ca khúc chuyển ngữ khác…
Theo lời tâm sự của Lê Xuân Trường: ” là người mê sưu tầm nhạc ngoại quốc, và nghe nhạc ngoại quốc đã cho tôi nhiều ý tưởng mà theo như văn hóa Việt Nam vẫn còn rất nhiều eo hẹp tư tưởng để biến ca khúc trở thành nhiều nét đa dạng…” (5)

Trong thời cực thịnh của nhạc Trẻ (Pop Music) thời ấy… Nhạc sĩ Kỳ Phát cũng có Trung Tâm riêng của mình lấy tên ”Thế Giới Nhạc Trẻ” phát hành được hai cuốn. Dự tính thực hiện cuốn thứ ba thì xảy ra biến cố 1975.
Bản nhạc lẻ mà Kỳ Phát dịch trong phim ”Mùa Thu Lá Bay” bán cho nhà phát hành Minh Phát, bán gần 100,000 bản. Đây cũng là một trong những bản lời Việt bán nhiều nhất trong thập niên 70 tại Saigon. Nhà phát hành Minh Phát cho biết như thế.
Về lãnh vực báo chí, Kỳ Phát có một thời gan ngắn học ở Đại Học Vạn Hạnh. Cộng tác với các tuần báo: Màn Ảnh, Sân Khấu Truyền Hình, Điện Ảnh Mới, Quật Cường, Em… vào thời trước năm 1975. May mắn khi đến Hoa Kỳ định cư, Kỳ Phát lại được sự ủng hộ của Trung Tâm Asia, thời gian này Kỳ Phát đã cho in lại một số CD với nhiều tiếng hát trước 1975, trong đó có những ca sĩ cũ-mới từng cộng tác với Trung Tâm Asia như Thanh Lan, Ngọc Hương, Tuyết Nhung, Lâm Thúy Vân, Kenny Thái v.v…

Khi mới qua Mỹ, Kỳ Phát viết cho tờ Đồng Nai, Dân Chủ, Thời Báo, Chí Linh, Thế Giới Nghệ Sĩ sau đó là thành lập “Trẻ Magazine”…
Về lãnh vực Nhạc Trẻ: thực hiện chương trình nhạc Trẻ hàng tuần tại các vũ trường nổi tiếng ở Saigon như: Queen Bee, Maxim’s, Đồng Khánh, Tự Do…
Thời trước 1975 từng cộng tác với Trường Kỳ, Nam Lộc. Tùng Giang trong các chương trình “Đại Hội Nhạc Trẻ Taberd”, Hoa Lư, Thảo Cầm Viên…
Trước khi qua Mỹ năm 1989, Kỳ Phát được Sở Du Lịch Saigon mời thực hiện chương trình ca nhạc hàng đêm dành cho khách nước ngoài tại vũ trường REX và vũ trường Palace (Hữu Nghị) đường Nguyễn Huệ rất thành công. “Có lẽ Kỳ Phát là người tổ chức nhạc vũ trường duy nhất bị kẹt lại Việt Nam, vì thế mới được mời”
Kỳ Phát khiêm tốn thố lộ: “Tính của Phát không thích phô trương, không thích nổi tiếng, chỉ thích âm thầm làm việc cần hành động thay cho lời nói, làm với sự đam mê. Kỳ Phát nghĩ mình cũng chẳng có tài đâu anh, cũng may làm việc gì tương đối cũng không bi thất bại. Phát nghĩ do số hên, Tổ đãi, có quý nhân hỗ trợ. ...”

Trong nhóm nhạc trẻ, Kỳ Phát khiêm tốn, như bản tính hiền hòa Kỳ Phát nói: “Phát chỉ là người bình thường, cũng không có gì ghê gớm lắm đâu anh. Mình thuộc loại “trẻ” trong bao nhiêu đàn anh… “Xin anh thông cảm, vì cảm tình anh muốn giúp Phát, nhưng làm nổi quá, sẽ bị ghét.

Theo lời yêu cầu của nhiều người, Phát dự tính trong năm nay sẽ làm show kỷ niệm 50 năm nhạc trẻ Việt Nam và kỷ niệm 18 năm Trẻ Magazine. Kỳ Phát cần nhờ đến những người có một thời yêu mến nhạc trẻ, giúp một tay, phổ biến cho khán giả biết tham dự và bảo trợ….”

Nhạc Sĩ Lê Xuân Trường và LXT Media Inc.,

Cũng trong poster trong ngày Hội ngộ ” 18 Anniversary Trẻ Magazine” còn có sự bảo trợ của LXT Media Inc., tức là của Lê Xuân Trường, một tài danh trong những năm qua về nhạc ngoại quốc lời Việt… Từng phụ trách chương trình “Tâm Tình Nghệ Sĩ ” trong những năm đầu tiên (của SBTN-TV) từng phỏng vấn khoảng 400 nghệ sĩ ròng rã hai năm trời, một tuần năm đêm..
Từng là chủ bút của Tạp Chí Văn Nghệ (Thúy Nga) Lê Xuân Trường giải thích rõ hơn về nhạc mang tên New Wave tại hải ngoại những năm đầu tị nạn, với Phan Kiên, nổi bật với ban nhạc Anh Tài (6).

Nhắc nhớ đến Anh Tài là nhớ đến người nhạc sĩ tài hoa – Anh Tài. Ở thập niên 80, 90, Không ai mà không biết tiếng của nhạc sĩ Anh Tài và ban nhạc của anh thời ấy. Anh Tài cũng là người nhạc sĩ đã giới thiệu nhiều những tiếng hát trước đây và giờ đây họ đã là thần tượng của biết bao người ái mộ điển hình là (Leyna Nguyễn-hiện là XNV Truyền Hình, Linda Trang Đài, Trizzi Phương Trinh).

Thời bấy giờ ca sĩ Việt, như Lynda Trang Đài, Trizzie Phương Trinh, Don Hồ, Ngọc Hương, Ngọc Lan đã tạo sóng gió trong thế giới nhạc trẻ hải ngoại. Giai đoạn này nổi bật phong trào rất thịnh hành: Nhạc Liên khúc do Trung Tâm Asia, Dạ Lan tạo ra phong trào với rất nhiều ca sĩ thành danh bao gồm cả Ngọc Lan, Tuyết Nhung, Ngọc Hương, Thúy Vi, Phi Phi…

Từ sau những năm chính biến 1963, cuộc “cách mạng” mở ngỏ cho bạn trẻ tham dự. Từ đó giới trẻ các nghệ sĩ, có một không gian âm nhạc riêng, “đứng ngoài dòng nhạc “phổ thông đại chúng” cũng phát triển cùng thời rất tha thiết, tâm tình về những nỗi lòng thương nhớ như những vần điệu ngũ cung, của cả hai loại nhạc “sang-cũ”, có người còn gọi là “Bán Cổ Điển”, hoặc “Tiền Chiến hoặc “Nhạc Trữ Tình”. Nhạc “phổ thông-đại chúng” còn gọi là nhạc quê hương, nhạc “mùi” và một hai cách gọi khác nữa.. thường phổ biến rộng trên làm sóng phát thanh, truyền hình, nhạc in rời, dĩa nhựa 45 tours… chiếm đa số hưởng ứng. Và dòng nhạc “trẻ”, nhạc mới có thể hiểu như là một dòng nhạc “Pop” Tây phương, những dònh nhạc khác như dân ca, cổ nhạc-cải lương, “phong trào Du Ca, nhạc tranh đấu, nhạc tôn giáo- đạo ca, thiếu nhi. Và hàng loạt nhạc “cũng trẻ” như Phạm Mỹ Lộc, Từ Công Phụng, Trường Sa, Nguyễn Đức Quang v.v.. cũng được ngưỡng mộ trong quãng thời gian này.

Đó là giai đoạn khai sanh của một dòng nhạc ta có thể hiểu dưới bất cứ tên gì, nhạc trẻ, nhạc hồng, nhạc trẻ thế giới, trước và sau 1975 lại thịnh hành tên gọi nhạc “hippy à go go“, nhạc choi choi, trước 66-68 khi Ngọc Đan Thanh giống Lê Xuân Trường nhớ lại… Thời Ngọc Đan Thanh mới 14 tuổi mà cô cũng đã say mê nhạc “hippy” mà không hề biết xuất xứ của phong trào chủ xướng loan truyền nội dung mới mẻ, theo lời nghệ sĩ Ngọc Đan Thanh: “Cũng có người còn cho rằng một số ca khúc mang nội dung của nhạc phản chiến, The Beatles: “Peace Not War” hoặc “Make Love Not War” của John Lennon, nhất là loại nhạc đó do các ban nhạc trẻ mang vô các căn cứ Hoa Kỳ để hát… và các ban nhạc trẻ được hỗ trợ từ các đại hội nhạc trẻ ở trường các Frère Dòng La Salle-Trường Taberd, và sân vận động Hoa Lư, được sự ủng hộ của Tổng Cục Trưởng Cục Chiến Tranh Chính Trị”.

Một số ca nhạc sĩ hoặc ban nhạc thời ấy “nhiều kể không hết” như: Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà, Ban Phượng Hoàng, Hải Âu, Mây Trắng v.v.. như Pauline Ngọc, Thanh Lan, Paolo Tuấn, Minh Xuân-Minh Phúc, Jo Marcel, Jimmy Joseph, Thành Hammer, Lê Toàn, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Đức Huy, Thanh Tuyền, Thanh Tùng, Kathy Huệ, Phi Huệ, Tuyết Dung, Vi Vân, Tuấn Dũng, Trung Hành, Cao Giảng, Bích Loan. v..v.. và rất nhiều tên tuổi khác nữa nếu liệt kê sẽ là một danh sách rất dài … không thể kể hết làm thế nào cho đủ được…

Cũng trong giai đoạn đó, những dĩa nhạc và tin tức, tạp chí ca nhạc Âu Mỹ tràn ngập các phong trào nhạc như Woodstock (1969), Johnny Halliday… Santana, Francois Hardy, Sheila, Tiny Yong, Sylvie Vartan… Dalida, Nancy Sinatra (với Bang Bang) hay nhạc “yé yé” trước và những năm đầu tị nạn rất phổ thông qua danh từ mới nhạc Trẻ-”New Wave”, và “Nhạc Trẻ-Liên Khúc”…

Trong khi nhạc ngoại quốc chuyển lời Việt, hoặc chỉ mượn mélody nhạc làm nền tảng cho ca khúc vốn nhiều bài hay và thu hút trong một cao trào dưới nhiều tên gọi điển hình như: “Việt Hóa Nhạc Trẻ” tạm vạch một lằn ranh thời gian từ 1965 tới 1975…. Và tại hải ngoại ngay từ vài năm đầu tị nạn khoảng 1977 cho tới ngày nay với sự gia nhập tích cực của: Nhật Ngân, Lê Xuân Trường, Khúc Lan, Kỳ Phát, Phượng Vũ.. cũng do sự thúc đẩy bởi nhu cầu của các trung tâm ca nhạc cát sét, CD, của Mây’s Production, Dạ Lan, Asia và Thúy Nga… producer Trần Thăng đã góp phần đóng góp rất nhiều đầu tư các ca khúc chuyển lời Việt cho Ngọc Lan, chính nhờ những đặt hàng chuyển ngữ lời Việt và yêu cầu điển hình như Trần Thăng, đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn gần gũi với âm nhạc thế giới qua lời Việt và ca sĩ Việt..

Đây là giai đoạn của ca sĩ, nhạc sĩ “ào ạt” chen chân vào viết lời Việt… bao gồm cả những nhạc sĩ trước 1975, có thêm Khúc Lan, Lê Xuân Trường, Nhật Ngân, Việt Dzũng, Trần Đình Hoàng, Phạm Khải Tuấn; những ca sĩ góp tài, viết vài bài hát như Ngọc Lan, Giáng Ngọc…

Đáng kể hơn hết từ năm 1995, là Lê Xuân Trường, người chủ trương “Tạp Chí Văn Nghệ” in đẹp và có giá trị tại Quận Cam và từ khi cộng tác với Trung Tâm Thúy Nga tiếp tục tài năng biến hóa “phù thủy” những ca khúc nhạc trẻ theo cách của riêng mình, có khi là viết lại lời của những ca khúc đã được viết lời Việt trước đây như “If You Go Away“.. hoặc những ca khúc soạn chung bằng Anh ngữ với Thanh Bùi, hoặc soạn toàn bộ một vài CD soạn lời Việt cho riêng ca sĩ Khánh Hà gần đây… Vì theo Khánh Hà, còn rất nhiều khán giả muốn được nghe những ca khúc nổi tiếng được viết lời Việt cho Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Ngọc Lan… Nhật Hạ và giới trẻ tiếp nối như Nguyên Khang, Trần Thái Hòa, Vina Uyển Mi, NiNi, Johnny Dzũng dịch nhạc và thực hiện một vài CD nhạc Trẻ lời Việt), Y Phương hát nhạc chuyển lời Việt từ thuở 13 (CD loại nhạc lời Việt này như: “Tình Vẫn Thiết Tha” chỉ bán trên Amazon, hoặc qua Google, App và I-Tunes) cũng có thu CD nhạc ngoại quốc lời Việt .. không kể những ca khúc mà Lê Xuân Trường cùng với Thanh Bùi cũng rất thành công qua “chợ bán nhạc” I-Tunes. Sự tài hoa của Lê Xuân Trường từng chắp cánh cho: Bảo Hân, Angéla Trâm Anh và các ca sĩ khác của Thúy Nga rất được khen về viết lời sát nghĩa như “If You Go Away“, “Je Suis Malade” từng được Lara Fabian hát…, và gần đây nhất là hai CD, một soạn riêng cho Khánh Hà, nột dành cho Ngọc Anh…

Nếu như vậy thì đây là giai đoạn đúng nghĩa của “nhạc nổi tiếng ngoại quốc chuyển lời Việt, thay vì danh từ vẫn quen gọi chung là ” Nhạc Trẻ”…
Những thành công nổi bật gần đây là dòng nhạc lấy từ mélody nhạc ngoại quốc được Lê Xuân Trường biến thành “Đôi Khi Em Muốn Khóc”, điểm thêm vài câu tiếng Anh như: I wanna fly- I wanna cry…” hát trên sân khấu Thúy Nga. Youtube của ca khúc này được vào nghe tới cả triệu lượt.. và ước vọng sáng tác nhạc Việt lời Anh ngữ của Lê Xuân Trường cùng với Thanh Bùi để gửi khát vọng cho nhạc bay đi xa rộng hơn…

Nhạc Trẻ… là một chủ đề rộng lớn từ 50 năm qua…
nếu bàn tới sẽ như câu chuyện dài vô tận về nguyên thủy tên gọi- gọi thế nào cho (đúng ý mọi người)*

Gần 50 năm dòng nhạc “mới mẻ”, hoặc thường được gọi là Nhạc Trẻ Việt Nam, là những mảng câu chuyện ghi dấu một thời không kể hết.. mỗi người gọi một tên, và “định nghĩa” khác nhau.. Danh từ nhạc Trẻ, như là một cách gọi cho một dòng nhạc Pop “trẻ trung hóa” ý nghĩa làm tươi mới các khát vọng từ các phương trời thế giới và mélody khác với nhạc “kích động” phát triển cùng thời. Soạn bằng nhạc và lời Việt cùng ra đời một thời tài hoa của Khánh Băng, Hùng Cường, Huỳnh Hoa-Túy Phượng.

Có thể từ ban kích động nhạc của giới trẻ, yêu những sự thể hiện mới mẻ qua ngôn ngữ ý tưởng từ những nhạc Âu Mỹ, giá trị lâu dài Âu Mỹ, hoặc nhạc thời trang thịnh hành tại Pháp Mỹ..
Tên gọi Nhạc Trẻ còn được hiểu là nhạc của những người bắt đầu thích nghe một loại nhạc mới, vừa được du nhập, được các “ban kích động nhạc” chơi trong các club và đơn vị Mỹ trú đóng; để so với nhạc tiền chiến, nhạc thị trường thịnh hành chiếm đa số quần chúng, mà cũng khác với nhạc “kích động” nhạc và lời Việt cùng ra đời một thời như Khánh Băng, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền trong các buổi ca nhạc lớn của quần chúng…

Dòng nhạc từng có tên “Nhạc Trẻ” sẽ được nhớ đến trong đêm “Dạ Tiệc & Hội Ngộ 50 Năm Nhạc Trẻ, với các ngôi Sao Nhạc Trẻ Xưa Và Nay” từ thời Sài Gòn nói chung ra đến ngoài này; gặp gỡ bao nhiêu nghệ sĩ một thời cống hiến…

Liên lạc giữ chỗ và ủng hộ chương trình hội ngộ 50 năm Nhạc Trẻ Việt – qua
Ban Tổ chức: (714) 222-2129
tại SeaFood Restaurant, Westminster, CA
Thứ Sáu ngày 8 tháng 11-2013

Chú thích:
(1) Lê Xuân Trường và Thanh Bùi, một tiêu biểu thành công trong thế hệ tiếp nối, không chỉ trên các sân khấu, mà còn cả trong dòng chính và cả Y Phương bán nhạc qua internet nhờ “ngôi chợ thế giới bán nhạc” “I-Tunes”, có thể đọc thêm: Nhạc Trẻ Việt 50 năm qua cái nhìn của Lê Xuân Trường trên www.NVnorthwest.com và www.Danquyen.com

(2) Bài viết chú trọng giới thiệu một phong trào nhạc phát triển mạnh mẽ tại Miền Nam Việt Nam trong khoảng nửa thế kỷ qua, và tiếp nối mạnh mẽ tại hải ngoại vài năm sau 1975. Đây là một dòng nhạc phát triển bên cạnh nhạc tiền chiến, nhạc “bán cổ điển”, nhạc giá trị được soạn bởi những nhạc sĩ tên tuổi, nhạc Du Ca, nhạc “phổ thông-pop” được nở rộ bởi rất nhiều tài danh trong “Kho Tàng Âm Nhạc Việt” nhiều “vô số kể”… không nhắc tới trong bài này: Phạm Duy, Anh Bằng, Y Vân, Tuấn Khanh, Hoàng Thi Thơ, Duy Khánh, Phượng Vũ, Hoài Linh, Nguyễn Văn Đông, Trường Sa, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Hoàng Thanh Tâm, Phạm Anh Dũng, Trầm Tử Thiêng, Trần Đình Quân, Việt Dzũng, Trúc Hồ, Vũ Tuấn Đức, Nguyễn Vũ (ở lại VN), Vũ Thành An và ba nhạc sĩ tốt nghiệp từ Trường Quốc Gia Âm Nhạc SàiGòn là: Phạm Thế Mỹ, Anh Việt Thu, Quốc Dũng (sáng tác trước 1975) … Tràn ngập nhạc sĩ cống hiến đủ mọi trường phái mà chỉ được gọi chung là nhạc phổ thông (pop music) có lẽ đúng hơn; thay vì gọi là nhạc “thời trang“,. Gọi là nhạc “mùi” thì cũng tạm, nhưng đừng nên gọi một cách “official” là “nhạc Sến“, dù có một số ít bài cũng hới quá lố. Gọi là nhạc “mùi”, nghe không ổn mà còn mang tính sai lạc phân chia, ngăn cách.
Người viết xin thành thật tạ lỗi, vì không thể nào có khả năng trí nhớ trọn vẹn và thệ hống hoá đầy đủ trong nội dung bài phỏng vấn “ngắn” để có khả năng ghi ra hàng trăm tên của quý vị nhạc sĩ, ca sĩ trong “kho tàng âm nhạc” Miền Nam được. Một số tên trong bài chỉ là những gợi nhớ dẫn giải điển hình mà thôi!

(3) Có những thời kỳ các dĩa nhạc, và tạp chí in lời các ca khúc và hình ảnh gửi từ ngoại quốc về SàiGòn, để in lại thành dĩa nhựa, cátsét, tuyển tập nhạc, làm giầu một cách “vô tư, thoải mái”, và đáp ứng nhu cầu giới trẻ thưởng ngoạn, và mở rộng tầm nhìn.. Theo Tiến Sĩ Phạm Quỳnh, hiện nay còn lưu giữ rất nhiều Dĩa Nhựa tài liệu, sách báo ca nhạc thời ấy, từng cung cấp những tài liệu âm nhạc cần thiết cho một trung tâm ca nhạc Việt Nam trước đây.

(4) sau 1975, nhiều anh em cựu quân nhân trong các trại “cải Tạo”, vẫn thường hát một số nhạc ngoại quốc được đặt lời Việt mà cứ gọi là “nhạc Liên Xô” để không bị cấm đoán như ca khúc từng được hát bởi Mary Hopkin do Paul McCartney trong nhóm The Beattles phát hành năm 1968: “Le Temps Des Fleurs” hoặc Those Were The Days… anh em cải tạo “ở Miền Nam thường thích mélody ca khúc thường bắt đầu bài hát với lời … “Thảo Nguyên bát ngát như xanh tận chân trời…”

(5) Ca khúc Donna-Donna ban đầu được hát bởi Joan Baez lời Anh ngữ (1968), nguyên thủy từ nhạc Do Thái, kể về một chuyến xe lửa chở người Do Thái bị tập trung về trại trừng giới- nhằm ca ngợi khát khao tự do-nhân quyền, thật bi thiết gây xúc động mạnh mẽ. Ca sĩ Tuấn Dũng đã viết lời Việt vào giữa thập niên 60, với tâm tình và nỗi lòng riêng cho một cuộc tình mang tên “Tiếc Thương” rất được phổ biến, yêu thích nghe và hát. Thời XHCN, ở Việt Nam, nhạc sĩ Trần Tiến cũng dựa trên ca khúc từ Pháp ngữ để sáng tác lời, không theo ý nghĩa nguyên bản được Mai Khôi hát.

(6) Ảnh Ban Nhạc Anh Tài, một trong những ban nhạc do Anh Tài (thứ hai từ trái) thành lập, Anh Tài là con chim đầu đàn đầy sáng tạo trong lãnh vực hòa âm và thực hiện CD cũng như đào tạo tài năng.

(Ảnh trên: Ban Nhạc Anh Tài, một trong những nhạc sĩ trẻ nhiều sáng tạo và khai phá trong lãnh vực âm nhạc tại hải ngoại,
NS Anh Tài (thứ hai từ trái) và các bạn trong ban nhạc gần ba thập niên trước – nhạc sĩ Trúc Hồ đứng góc trái)

Public Health Seattle-King County và American Red Cross gặp gỡ cộng đồng về phòng ngừa Thiên Tai và Y Tế
Wednesday, June 12th, 2013

Đại diện cơ quan Public Health Seattle & King County và American Red Cross liên tiếp trong vài tuần lễ vừa qua đã quảng bá sâu rộng đến cộng cộng đồng cũng như tiếp cận giới truyền thông báo chí truyền hình gốc Việt nhằm tìm hiểu về những nhu cầu trị liệu y tế sức khoẻ.

Ngoài ra cùng đi trong nhóm tiếp xúc phục vụ cộng đồng là anh Lee Phúc Ly, phụ trách giảng huấn về chuẩn bị đối phó thiên tai từng đứng đại diện mời gọi mọi người đến với Hội Hồng Thập Tự để cùng hội thảo về việc phòng chống thảm họa thiên tai.

Buổi hội thảo gặp gỡ về phòng chống thiên tai được tổ chức vào lúc 10 giờ sáng Thứ Bảy 8 tháng 6-2013 tại Hội Hồng Thập Tự số 1900 – 25th Ave S Seattle, WA 98144.

Cũng trong cuộc tiếp xúc với giới truyền thông và giao tiếp cộng đồng, đại diện các cơ quan đã có buổi gặp gỡ với anh Lee Phuc Ly, cùng với Tiến Sĩ Meredith Li-Vollmer chuyên gia về Risk Communication, và cô Robin Pfohman giám đốc chương trình Vulnerable Population Action Team (VPAT).

Trong buổi gặp gỡ đại diện các cơ quan đã tìm hiểu phương cách tiếp cận, phổ biến tin tức cập nhật và tin tức cấp bách… cần thiết trong tương lai, cũng như làm cách nào có thể chuyển đạt đến người gốc Việt những thông tin hữu ích về Y Tế và đối phó phòng ngừa khi có thiên tai..

Đây là một bước tiến đặc biệt cần thiết và phục vụ quần chúng, mà các cơ quan y tế, trợ giúp xã hội đã cùng thảo luận với giới am tường về thông tin , báo chí và Truyền Hình SBTN-TV và AAT-TV để phục vụ cộng đồng một cách hữu hiệu và nhanh chóng.

Six students honored at the 2013 Northwest Journalists of Color Scholarship reception
Wednesday, June 12th, 2013

Front row (L to R): Elyse Tan, Joella Charis Ortega, Seungkyul Joseph Park, Seungkyul Joseph Park, Ashley Walls and Holly Martinez.
Back row (L to R): AAJA Seattle board members Mai Hoang, Caroline Li and Tiffany Wan, Lori Matsukawa of host KING 5 and Steve Kipp, vice president of communications for Comcast Washington.

UW Libraries seeks more funding for valuable “Vietnam Era Collection”
Friday, May 31st, 2013

Above: Bob Jones III, who collected 3,500 valuable books
from Vietnam Era for the UW Library.

By KATHERINE LOH
University of Washington News Lab
(Student in Department of Communication News Laboratory)

Hoang Ngo is a graduate student in the history department at the University of Washington. He is currently writing his dissertation in Vietnamese Studies and thinks that UW’s recent acquisition of Vietnam era collection will benefit his research.

“Vietnamese studies show that politics don’t really align. When it comes to memories of history, there is always that tension,” said Ngo. “Those things don’t always align and it’s hard to talk about because one is a personal thing and the other is an object of studies with no attachment to it.”

Hence, his great interest in the Bob Jones III Vietnam era collection. It represents more than 3,500 book titles ranging from manuscript materials, journals and French, Vietnamese and English literature on Indochina. Many are treatises on colonial law, climate, agriculture, geography and history that were made available to Jones on the streets of Saigon as well as at antiquarian markets during the years of conflict in Vietnam, 1966-1975.

Bob Jones III was the longest-serving US Foreign Service officer during the war in Vietnam, according to an abstract that accompanies the collection. During his tenure at the Embassy in Saigon, he was an avid book collector. After the war
he remained active in the Vietnam Studies and Vietnamese American communities.

Sheryl Stiefel, Director for Libraries Advancement, said that the libraries have used interest income of $150,000 from the Magnuson endowment as well as other sources and departments around campus to acquire the bulk of the collection, but there is still fundraising efforts to be done.

“The actual collection is going to cost about $200,000,” said Stiefel. “We split the balance of the payment down; we need an extra $50,000 to complete the acquisition and an additional $50,000 to begin the inventory, cataloging and the assessment of the conservation and preservation of the collection to make it accessible to students, scholars and those worldwide.”

Stiefel states that a lot of the research that can be done has to do with socio and political economic changes in Vietnam from the 1880s through about the mid-1970s.

Cristoph Giebel, historian, Vietnam specialist and professor in International Studies at the UW, said he spoke with a Vietnam political scientist named Bill Charlie who was familiar with the collection a few years ago.

“The collection already became quite legendary among knowledgeable people in Saigon during the late war years,” said Giebel. “[Bill Charlie] said in those days, people knew that Bob Jones was an embassy official that spent an inordinate amount of resources and time on collecting materials; it was already fabulous and kind of famous.”

Judith Henchy, lead UW librarian and curator in the Southeast Asia Section, Libraries of International Studies, said she met Jones at several academic conferences. He was apparently seeking to give his collection to an academic institution. However, after Jones’ passing in 2011, the collection went into the hands of a private book dealer, from whom the UW acquired it. It arrived on campus May 21.

Henchy has a number of ideas on how the collection can be used. “We have a plan … to develop some sort of interdisciplinary links between different departments,” Henchy said. “We are going to try to put together some classes that will bring together the history and the French departments, as well as the Jackson School and Asian languages and literature, to bring more of a focus on Vietnamese language and literature and to teach about Vietnam through the humanities.”

Besides bringing together different academic entities at UW, the collection could help researchers, faculty, students, policy makers and the public learn more about Vietnam. It also enhances the UW’s status as a top-tier institution for study of history, politics, historical geography, as well as the American war period.

The collection will put UW libraries squarely on the map, according to Giebel.

“These are extremely rich sources that I look forward to (using),” said Giebel. For undergraduates who are accustomed to mostly online research, the collection offers something new. This is the kind of education that online resources cannot provide [because] it helps ideas become action and I think it is a fascinating step in transforming history.”

Ngo hopes the collection will provide more meaningful insight into a vast culture that many in the Vietnamese community are not aware of since the struggles of the Vietnam War.

“I hope that more Vietnamese Americans take more of an interest after this collection is put together,” Ngo said in reference to history post-war. “After all, there is still a lot of pain and suffering.”

Available to all three UW campuses — Tacoma, Bothell, and Seattle — the collection will help bridge the recruitment of graduate students interested in Vietnamese history according to Sheryl Stiefel, Director for Libraries Advancement.

Stiefel would like to encourage individuals, businesses and foundations as well as the local Vietnamese community to help raise the extra money.

For more information, you can contact Sheryl Stiefel through her work number, (206)6851973 or email her at sstiefel@uw.edu
or Judith Henchy at judithh@uw.edu.

——————————————————————————————–
(KATHERINE LOH is a student in the University of Washington Department of Communication News Laboratory.)

also in Vietnamese Translation on Northwest Vietnamese News www.NVnorthwest.com & Danquyen Newspaper (www.DanQuyen.com)

Thư viện Đại Học Washington và bộ sưu tập giá trị: ‘Kỷ Nguyên Việt Nam’- VietNam Era Collection
Friday, May 31st, 2013

Chân dung nhà sưu khảo Bob Jones III
Vietnam Era Collection” người gần gũi người dân Miền Nam

Tác giả sinh viên:Katherine Loh (Đại Học U W-News Lab)
Ủy thác đề tài và chuyển ngữ: TS Julie Phạm

Ngô Hoàng từng tốt nghiệp phân khoa lịch sử tại Đại học Washington. Ông hiện đang viết luận án Nghiên Cứu về Việt Nam, đã cho rằng sự nỗ lực tạo mãi gần đây của Đại học Washington mang về bộ sưu tập Kỷ Nguyên Việt Nam sẽ mang lại lợi ích cho việc nghiên cứu của mình.

Các nghiên cứu về Việt Nam cho thấy rằng chính trị không được thực sự sắp xếp lớp lang. Khi nói đến khi nhớ lại về lịch sử, vì luôn luôn có sự xung đột đó”, ông Ngô Hoàng nói. “Những điều đó không phải lúc nào cũng có thể điều chỉnh được dễ dàng và thật khó để nói đến, vì một đàng là vấn đề cá nhân và mặt khác là một đối tượng nghiên cứu không có gì gắn bó với nó.”

Do đó, mối quan tâm lớn của ông trong bộ sưu tập mang tên Bob Jones III về Việt Nam. Nó thể hiện với hơn 3,500 tựa đề sách khác nhau, từ nhiều tài liệu, bản thảo, tạp chí và xuyên qua cả văn chương tiếng Pháp, tiếng Việt và tiếng Anh về Đông Dương. Nhiều đầu sách chuyên luận về luật pháp thời thực dân, về khí hậu, nông nghiệp, địa lý và lịch sử đã được có sẵn để Bob Jones truy tìm được kể cả trên đường phố Sài Gòn cũng như lui tới chốn bán đồ cổ trong những năm nội chiến ở Việt Nam, 1966-1975.

Bob Jones III từng là viên chức ngoại giao Hoa Kỳ phục vụ lâu nhất trong thời kỳ Mỹ tham chiến ở Việt Nam, theo như một bản lược thuật kèm với bộ sưu tập. Trong nhiệm kỳ của ông tại toà Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, ông là một chuyên gia khao khát sưu tập sách, truy cập tài liệu. Sau khi về lại Mỹ, ông vẫn còn hoạt động gắn bó với lãnh vực về Việt Nam-Học và cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở Hoa Kỳ.

Sheryl Stiefel, Giám đốc Thư Viện Tiến Bộ “Libraries Advancement”, nói rằng các thư viện đã sử dụng thu nhập nguồn lợi của $150.000 USD từ các khoản hiến tặng Magnuson cũng như các nguồn khác và các nguồn tìm kiếm trong phạm vi phân khoa và toàn trường để có được số lượng lớn các bộ sưu tập, nhưng vẫn còn liên tục nỗ lực cần tiếp tục gây quỹ.

Bộ sưu tập thực tế sẽ cần ngân quỹ khoảng $200,000,” Stiefel nói. “Chúng tôi tìm cách hạ xuống khoản tiền trả một phần trước xuống, chúng tôi vẫn còn cần thêm $50.000 để hoàn thành việc “mang về” bộ sưu tập và cần thêm $50,000 nữa để bắt đầu kiểm kê, biên mục và đánh giá việc bảo quản và bảo tồn bộ sưu tập để giúp cho sinh viên, học giả và những người trên toàn thế giới dễ sử dụng.”

Stiefel khẳng định rằng có rất nhiều dự án nghiên cứu có cơ hội để nghiên cứu từ bộ sưu khảo về các đề tài liên quan đến xã hội và kinh tế-chính trị ở Việt Nam từ thời 1880 cho đến giữa thập niên 70 (1970).

Cristoph Giebel, nhà sử học, chuyên gia về Việt Nam-Học và cũng là giáo sư khoa Nghiên Cứu Quốc Tế tại Đại Học Washington, cho biết ông đã từng trao đổi với một nhà khoa học chính trị chuyên đề Việt Nam tên là Bill Charlie người đã gần gũi với “bộ sưu tập” này từ một vài năm trước…

Bộ sưu tập này đã từng là sự nể phục của giới uyên bác trí thức tại Sài Gòn trong những năm gần kết thúc chiến tranh,” Ông Giebel nói thêm . “[Bill Charlie] từng cho biết trong những ngày đó, mọi người ai cũng biết rằng ông Bob Jones là một viên chức tòa Đại Sứ, đã dầy công và bỏ nhiều thời gian gom góp, thu thập tài liệu, quả là tuyệt vời rất biểu trưng và nổi danh.”

Judith Henchy, quản thủ thư viện Đại Học Washington (UW) là người chuyên trách khu vực Đông Nam Á, của Thư Viện Đại Học Nghiên Cứu Quốc tế, cô cho biết đã từng gặp ông Bob Jones tại một số cuộc hội thảo của giới học giả, chuyên khoa. Ông Jones từng bày tỏ ý muốn sẽ cống hiến bộ sưu tập của mình đến một viện đại học chuyên khoa. Tuy nhiên, chẳng may ông Jones đã quá vãng vào năm 2011, bộ sưu tập đã lọt vào tay của một tay lái buôn sách quý tư nhân, rồi qua nhân vật này Đại Học Washington tìm mua lại được. Bộ khảo cứu về đến khuôn viên trường ngày vào 21 tháng 5.

Henchy có nhiều sáng kiến về Bộ Sưu tập này có thể sẽ được mang lại lợi ích. “Chúng tôi có một kế hoạch … để phát triển một số loại kết hợp chung giữa các phân khoa tại Đại Học cùng các lãnh vực nối kết khác ,” cô Henchy nói. “Chúng tôi sẽ cố gắng để xếp đặt chung một số các lớp học được thuận tiện khi truy cập, như phối hợp môn lịch sử và phân khoa Pháp văn, cũng như với trường đại học về Bang Giao Quốc Tế (Jackson School) tại Viện Đại Học Washington và phân khoa ngôn ngữ Á châu và khoa văn chương, để tập trung nhiều hơn về ngôn ngữ và văn chương Việt Nam và giảng dạy về Việt Nam thông qua khoa học nhân văn.

Bên cạnh việc tập hợp lại các phân khoa khác nhau, tạo cơ hội trau dồi kiến thức tại Đại học Washington, bộ sưu tập này có thể giúp các nhà nghiên cứu, giáo sư, sinh viên, các giới chức công quyền chuyên hoạch định chính sách, giúp mọi giới học hỏi và hiểu rõ thêm về Việt Nam. Bộ sưu khảo này cũng làm tăng vị thế hàng đầu của Đại Học Washington, đứng hàng đầu về khoa lịch sử, chính trị, địa lý lịch sử, cũng như thời kỳ Mỹ tham dự cuộc chiến.

Giebel kết luận: Bộ sưu tập sẽ nâng cao tầm vóc của Thư Viện Đại Học Washington (UW) lên rất cao .

Đây là những nguồn tư liệu vô cùng phong phú mà tôi mong muốn được dùng đến,” Giebel nói. “Đối với sinh viên ban cử nhân rất sành sõi với việc nghiên cứu chủ yếu là qua trực tuyến (online), thì nay bộ sưu tập sẽ cung cấp một cái gì đó mới mẻ. Đây là lối học mà nguồn tài nguyên trực tuyến cũng chịu thua, vì không trực tuyến không thể cung cấp [vì] nó giúp ý tưởng trở thành hành động và tôi nghĩ rằng đó là một bước tiến hấp dẫn trong việc chuyển đổi lịch sử.”

Riêng về phần ông Ngô Hoàng “hy vọng bộ sưu tập sẽ cung cấp một cách nhìn sâu sắc có ý nghĩa hơn đối diện một nền văn hóa rộng lớn mà nhiều người trong cộng đồng Việt Nam không cập nhật được những thông tin từ những nỗ lực cho cuộc chiến Việt Nam”.

Tôi hy vọng rằng người gốc Mỹ gốc Việt sẽ tăng thêm mối quan tâm sau khi có bộ sưu tập này giúp tập hợp những trang sử và xếp đặt liền nhau,” ông Ngô Hoàng cho biết như trên khi đề cập đến lịch sử thời hậu chiến. “Nhưng sau cùng, thì đến nay vẫn còn rất nhiều nỗi đau đớn và vết thương để lại .”

Sheryl Stiefel, Giám đốc Thư viện Libraries Advancement đã cho biết: Bộ sưu tập này có sẵn tại tất cả ba thành phố của trường Đại học Washington (Tiểu Bang Washington)– chi nhánh Tacoma, chi nhánh Bothell, và Seattle – bộ sưu tập sẽ giúp bắc nhịp cầu lôi cuốn sinh viên thêm quan tâm đến lịch sử Việt Nam.

Cô Stiefel muốn được kêu gọi mỗi cá nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể, hội đoàn cũng như cộng đồng người gốc Việt tại địa phương và khắp nơi cùng góp thêm bàn tay giúp một phần đóng góp thêm cho ngân quỹ của Bộ sưu tập “VietNam Era Collection” giá trị này…

Để biết thêm chi tiết đóng góp, có thể liên lạc với cô Stiefel Sheryl điện thoại: (206) 685-1973 hoặc qua email: sstiefel@uw.edu
hoặc Judith Henchy qua email: judithh@uw.edu.

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

Nguồn: www.Danquyennews
Nguyên bản Anh ngữ có thể đọc trên: www.NVnorthwest.com

Hoa Khôi và Á Khôi Liên Trường Washington 2013: Hát hay đàn giỏi và duyên dáng
Friday, May 17th, 2013

Khôi khôi 2013: Bùiquý Trường Thy- được khen ngợi là Hát hay và duyên dáng

Hoa Khôi Bùiquý Trường Thy trình diễn xuất sắc một ca khúc đầy thu hút như ca sĩ chuyên nghiệp vững chãi khi trình diễn trên sân khấu. Đây là hình ảnh đẹp, ưu điểm trong cuộc thi Hoa Khôi Liên Trường Washington lần thứ 9 năm nay.
Có thể nói rằng phần ca hát đã góp phần mang về cho cô Bùiquý Trường Thy chức Hoa Khôi 2013.
[gallery]

Á Khôi 1 khôi liên trường Washington 2013 là: Đinh Tú Anh đẹp và duyên dáng

Á khôi 1: Đinh Tú Anh và cả Hoa khôi Bùiquý Trường Thy cả hai đều đã chứng tỏ tài năng về văn nghệ và nét duyên dáng phụ nữ Việt, và Á Hậu 1: Đinh Tú Anh đã xuất sắc trước khán giả và giám khảo thể hiện qua trình diễn đàn tranh và trả lời ứng phó về văn hóa Việt trong buổi lễ hội đông người tham dự cổ võ buổi thi tuyển Hoa khôi lần thứ 9 (cứ mỗi hai năm một lần) tổ chức vào chiều thứ Bảy ngày 20-4-2013 tại Kane Hall- University of Washington. Xem News clip SBTN-TV chiếu trên truyền hình thượng tuần tháng 5-2013
(Photo www.Donalpham.com)

Con gái nhạc sĩ Lê Văn Khoa: Lê Mai Khanh vinh dự thắng “Champion Gia Chánh” chương trình Chopped -Food Network
Wednesday, May 8th, 2013

Cô gái gốc Việt Lê Mai Khanh đã vượt qua những đối thủ kỳ cựu để chiếm giải Champion và $10,000 tiền thưởng trong cuộc thi nấu ăn trong chương trình Chopped của Food Network trên truyền hình Hoa Kỳ, phát hình lúc 8 và 10 giờ tối Thứ Ba, 16 -4 vừa qua.

Lê Mai Khanh chiếm giải Champion và $10,000 tiền thưởng trong cuộc thi nấu ăn trong chương trình Chopped của Food Network trên truyền hình Hoa Kỳ

Chopped là chương trình của Food Network rất ăn khách được phát hình trong giờ cao điểm của truyền hình.

[gallery]

Lê Mai Khanh (Maiki Le) chiếm giải Champion và $10,000 tiền thưởng trong cuộc thi nấu ăn trong chương trình Chopped của Food Network trên truyền hình Hoa Kỳ

Cuộc thi gồm có bốn thí sinh: Bruce Barber, đầu bếp gốc Úc có hơn 30 năm kinh nghiệm nấu ăn, từng làm đầu bếp cho Barbara Streisand trong 5 năm. McCaily Cranna, đầu bếp số 2 của khách sạn Hudson’s on-the-bend, Austin Texas. Michael Bryant, tổng quản trị nhà bếp của Eva Restaurant, Los Angeles, và Lê Mai Khanh (Maiki Le), quản lý nhà bếp của Josie Restaurant, Santa Monica, California.

Có ba giám khảo: Scott Conant, đầu bếp và là chủ nhà hàng, tác giả sách nấu ăn. Marc Murphy, đầu bếp, chủ nhà hàng và chuyên viên về thức ăn trên truyền hình. John Li, đầu bếp và cố vấn nhà bếp từ Úc.

Người dẫn chương trình là Tim Allen, từng đoạt giải Emmy, tác giả sách nấu ăn và là nhân vật danh tiếng của truyền hình Hoa Kỳ.

Cuộc thi có ba món ăn: khai vị, món ăn chính, và tráng miệng.

Việc chấm điểm dựa trên ba yếu tố là trình bày thẩm mỹ, khẩu vị, và sáng tạo món ăn.

Thí sinh không thể chuẩn bị món ăn trước, vì tới giờ thi mỗi món, thí sinh mới được nhận một giỏ đậy kín, bên trong là các món cần nấu, giống nhau cho cả 4 thí sinh. Mở nắp giỏ lấy thực phẩm ra, tất cả món chính đều rất lạ và đến từ Úc Châu, làm hầu hết thí sinh “chới với.”

Kết quả món khai vị, thí sinh McCaily Cranna bị chopped (loại khỏi vòng chót).

Còn lại ba người chuẩn bị cho món ăn chính. Lấy thực phẩm trong giỏ ra, lại các món từ Úc. Ông Bruce Barber cười khoái chí vì trúng vào ngón nghề của ông. Nhưng điều ông không ngờ được là chính ông bị loại ra khỏi cuộc thi.

Còn lại Michael Bryant và Maiki Le thi món tráng miệng. Cũng lại thực phẩm từ Úc.

Kết quả chung cuộc, tính vào sự đều tay chung của ba món ăn, Maiki Le được tuyên bố là người thắng cuộc và ngân phiếu đề tên cô.

Ðây là lần thứ hai Maiki Lê thắng giải thi nấu ăn trên truyền hình Hoa Kỳ. Lần trước, Tháng Năm 2011, cô thắng trong chương trình “24 Hours Restaurant Battle, Asian Food”.

Ðến đây, thêm một điều ngạc nhiên cho độc giả, Maiki Le tức Lê Mai Khanh, con gái thứ hai của nhạc sĩ kiêm nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa và ca sĩ Ngọc Hà. Cô Mai Khanh tốt nghiệp ngành Sinh vật học từ Brown University ở Rhode Island, năm 2004 nhưng sau đó chuyển qua ngành nấu ăn cho đến ngày nay. Maiki Lê và các chị em gái của cô mỗi người đều có một tài năng khác biệt, không khác gì thân sinh, nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa từng đoạt rất nhiều giải thưởng danh dự quốc tế về nhiếp ảnh cùng với các sang tác đại hòa tấu tầm mức quốc gia, cùng với tài khéo “công dung ngôn hạnh, nấu nướng của mẹ./.

Kỹ thuật 3D Industri.es đã cách mạng hóa sản xuất tìm trên Google- 3 chiều (3D)- “London-Based Startup 3D Industri.es Aims To Become The Google Of 3D Search” tác giả Julie Phạm
Friday, May 3rd, 2013

Từ trung tâm của công nghệ ở London, Anh quốc, Công ty 3D Industri.es vừa xuất hiện là đã nối liền Thành Phố Công Nghệ Trung Quốc với vùng công nghệ khổng lồ Thung lũng Silicon của Bắc Cali. Công ty 3D Industri.es tân tiến bậc nhất thế giới này đã nhanh chóng nổi bật thành một khởi động (cơ khí) cuộc cách mạng hóa cả trong sản xuất lẫn ứng dụng cho ngành gọi là internet search: 3D Industri.es (3DI), đồng thời thương mại hóa công nghệ tìm kiếm bằng cách tạo ra các ứng dụng dựa trên hình dạng là công cụ hình học không gian ba chiều (3D).

Sản phẩm đầu tiên này mang tên một công cụ khoa học kỹ thuật nhằm tìm nguồn cung ứng nền tảng trực quan cho ngành công nghiệp đặc biệt mới mẻ nhất hiện nay có khả năng rút ngắn quá trình tìm nguồn cung ứng lâu dài cho các bộ phận hoặc món hàng, đồ vật trong chuỗi cung ứng sản xuất hoặc trên mạng lưới internet.

Thông thường, khi người dùng internet để khởi động tìm hàng trên các nguồn thông thường (ví dụ như Google), một danh sách các mạng liên kết sẵn liên quan (links) có thể xuất hiện dựa trên các từ khóa (keys) thường được sử dụng.

Trong sản xuất, không phải là luôn luôn có hệ thống đặt tên và đánh số phổ quát, do đó khi tìm nguồn cung ứng trên các trang web thường được ví như châm ngôn “tìm kim trong đống cỏ khô”. Thế mà với hệ thống tìm kiếm qua 3D mới phát minh đã giản dị hóa, biến đổi hẳn kinh nghiệm này.

3DI kết nối người mua và nhà cung cấp của các thành phần công nghiệp, thông qua công cụ tìm kiếm 3D.

Với 3DI, một nhà thiết kế công nghiệp tìm kiếm có thể chuyển tải những gì muốn thiết kế 3D lên một khởi động tìm kiếm 3D thì lập tức, người muốn tìm món hàng ấy sẽ có ngay một danh sách phù hợp với đầy đủ từ bất cứ một nhà cung cấp trên toàn thế giới có. Trong số những xu hướng khác, sự bùng nổ phương tiện in hình ảnh 3 chiều, trên mạng thông tin hoàn cầu này đã dẫn đến sự gia tăng đột ngột bị vây quanh bởi khuynh hướng riêng biệt về mức cầu và cung cấp các mô hình 3D và mọi dữ liệu cần có trên web.

Như từ xưa nay những gì hiện ra bằng chữ trên Google đã có thì bây giờ lại hiện ra thành ra hình dạng và các mô hình qua 3D trên trang web...” Tiến sĩ Seena Rejal, người sáng lập và là Giám đốc điều hành của kỹ thuật mới 3DI nói: “Chúng tôi đang tạo lập ra một thế giới 3D.

Dân chủ hóa khu công nghệ sản xuất

Andy Sandford, một chuyên gia sản xuất của Anh Quốc và còn là nhà tổ chức quan trọng của SUBCON, trong cuộc triển lãm trưng bày sản xuất công nghệ hàng đầu tại Anh Quốc vừa qua, cho biết 3DI “có tiềm năng tạo bộc phát quy mô rất lớn cho công nghệ sản xuất về hình ảnh trên web..”

Trong quá khứ, một người mua hàng sẽ phải đi kiếm một vài trang trong tập quảng cáo, hay phải ngồi xuống với người cung cấp để mà đặt hàng: “Tôi muốn mua một cái gì đó như thế này...”. Thực chất là họ chỉ muốn là nhìn thấy chính xác món hàng mà họ muốn mua, hoặc các nhà cung cấp sẽ mô tả tới lui với khách mua qua những lựa chọn mẫu mã mô tả dữ liệu phù hợp của một sản phẩm tiêu chuẩn cần mua, cho đến khi đả thông, và chỉ có thể
là một tờ giấy đầy những ghi chú chữ nghĩa rắc rối..” Sandford nói.

Hưởng lợi trong việc kiếm tìm nguồn cung ứng thông thường là những người trung gian, phải nắm vững liên quan tới các sản phẩm (món hàng) giữa các nhà sản xuất và nhà cung cấp”, theo lời Tiến Sĩ Rejal.

Sự lệ thuộc này trước đến nay dựa trên các tập danh mục catalog của các hãng riêng hoặc giới đại diện bán hàng và công ty môi giới, như thế thì thường rất tốn kém cho các nhà cung cấp nhỏ và trung bình khi cạnh tranh.

John Vicklund đứng đầu tổ chức “Tác động tại Washington” có tên “Impact Washington”, một tổ chức bất vụ lợi, cung ứng hỗ trợ kỹ thuật, và những người ủng hộ đại diện cho các nhà sản xuất nhỏ. Vicklund nói, “quản lý tiếp thị và chi phí cho chuỗi cung ứng trung gian là vấn đề gây khó khăn trong lãnh vực kinh doanh nhưng cần thiết cho nhiều nhà sản xuất. Bất cứ điều gì tạo dễ dàng hơn cho các nhà cung cấp để chia sẻ thiết kế của họ thì chắc chắn sẽ tiết kiệm thời gian và tiền bạc.

3DI tức “Ảnh Không Gian 3 Chiều”, sẽ giản tiện hóa và biến mong muốn thành khả thi cho các nhà cung cấp tầm vóc lớn hay nhỏ. Và các nhà thiết kế 3D sẽ giúp khách hàng tiếp cận trực tiếp với các cơ sở sản xuất, rộng khắp toàn cầu. Vicklund xác định rằng tại Mỹ, chỉ có hai phần trăm là các nhà sản xuất lớn có hơn 500 nhân viên, còn đến gần phân nửa tổng số cơ sở chỉ có mười nhân viên trở xuống mà thôi.

Có hàng ngàn nhà thiết kế và các nhà sản xuất – qua hội thảo hoặc đến tận các nhà máy – trên toàn thế giới nhưng họ hiếm có được cơ hội chiếm thị trường,” Tiến Sĩ Rejal nói. “Khi ta đã có thể tạo được hình dạng phù hợp từ 3D trên web, thì từ đó sẽ tạo ra hàng loạt lợi ích giá trị kế tiếp nhờ trưng bày bằng hình ảnh giống như thiết kế cùng một cách như Amazon, eBay và Google nay bắt đầu thay thế được hệ thống bán lẻ.

Với 3DI, các nhà sản xuất download các mô hình 3D – chọn thể hiện phù hợp với những gì của họ sản xuất – Họ cũng có một lựa chọn các gói thuê bao cho phép họ chọn lấy một phiên bản độc quyền, cho công cụ tìm kiếm riêng của mình.

Hơn thế nữa, 3D cũng dựa trên mô hình tìm kiếm Internet, thực dụng giúp giải quyết trở ngại ngôn ngữ trên thị trường, vì dựa trên dữ liệu hình ảnh thấy và hiểu ngay, dễ hơn là phải diễn tả bằng ngôn ngữ. Rejal nói thêm: “Cũng như khách hàng ngoại lệ với người Trung Quốc, cũng đánh liều để kiếm được đúng nơi bán hàng. Gần đây, càng có thêm nhiều xưởng công nghệ sản xuất từ Trung Quốc rất muốn kết nối tốt đẹp với khách hàng ở khắp nơi. Vì vậy họ đã liên hệ với chúng tôi để giúp họ đạt mục tiêu.”


Doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) và doanh nghiệp đến trực tiếp khách (B2C) qua in ấn

Ban đầu, 3DI được dự định phục vụ cho doanh nghiệp đến doanh nghiệp B2B. Với máy scanner loại ít tốn kém 3D có thể lập tức chụp và chuyển tải lên web, sẽ sớm được phổ biến rộng rãi. Ngay cả Microsoft cũng vừa công bố phiên bản phần mềm thiết bị cho Kinect phổ biến, cho phép được sử dụng để scan 3D.

3DI hiện đã có kế hoạch cho phép người bán lẻ tiêu dùng chỉ cần “gõ” vào công cụ tìm kiếm của 3DI.

Không giống như tìm kiếm dựa trên văn bản, người tìm qua 3D sẽ luôn có thể tìm thấy một món hàng đúng ý muốn, bởi vì họ có thể chọn “option” để in 3D những gì họ cần tìm. Rejal nói 3DI đang muốn hợp tác với các nhà in lớn 3D để hoàn tất một số chu trình. 3DI xuất phát từ ngành in 3D cải tiến “kỹ thuật digital “là một bổ sung hiện tại nhằm giúp tìm nguồn cung ứng sản phẩm muốn tìm. Ngành in ấn 3D vẫn còn là một công nghệ cận đại hiện còn áp dụng trong công nghiệp, dù rằng các “bản in” này luôn tốn kém hơn nhiều so với việc tìm được nhà cung cấp hàng sẵn có lượng hàng “sẵn sàng hình ảnh” có sẵn trong tồn kho.

Duann Scott, một bậc thầy của Shapeways, là một nhà in lớn 3D, nói rằng chức năng tìm kiếm phối trí kỹ thuật 3D là bước quan trọng trong sự phát triển của hệ sinh thái (hỗ trợ nhau) qua in ấn 3D.

Chúng ta đang sống trong thời đại Google”, ông Scott nói. “3D Industri.es có thể làm điều tương tự cho thấy các bộ phận hình ba chiều giống 3D đã làm được. Thành quả lớn lao này sẽ được mọi giới cần sử dụng nhận, xài đến nó.

Scott rút tỉa những nhận thức tại Shapeways. Giới kỹ sư và nhà thiết kế trước đây cũng đã từng nhanh chóng chấp nhận phát minh 3D cũ, nhưng sự tăng vọt rất lớn là nhờ sự hưởng ứng đổi mới của giới tiêu dùng nối gót một cách thật nhanh chóng. Ông dự đoán về sự bành trướng của phát minh hình ảnh 3 chiều 3DI cũng phát triển nhanh tương tự.


Nhà sản xuất, nhà phát minh kiêm doanh nhân

3DI chính là đứa con trí tuệ của Seena Rejal, một tiến sĩ tốt nghiệp đại học Cambridge, là công dân sinh ra từ Anh Quốc, thân phụ cũng là một tiến sĩ gốc di dân.

Từ năm 2001, Rejal và tôi gặp nhau tại một bữa tiệc Giáng Sinh tại Đại học Cambridge. Hai chúng tôi cùng là nghiên cứu sinh năm thứ nhất Ban Tiến Sĩ. Ông Rejal có sức thu hút và quyến rũ qua phong thái của một chủ tịch công ty hơn vai trò nhà nghiên cứu phát minh sản xuất công nghiệp.

Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ trà đàm, ông kể cho tôi biết về “Tổ Chức Doanh Nghiệp Đại học Cambridge” (Cambridge University Enterpreneurs). Ông là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên của tổ chức hoạt động kinh doanh sinh viên này. Chính ông là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên và định hình cho cuộc thi thố kinh doanh của sinh viên kinh tế.

Rejal học theo Giáo sư Sir Mike Gregory, một bậc thầy nổi tiếng tại Vương quốc Anh về sản xuất và cố vấn chủ chốt về chính sách của chính phủ. Sau khi hoàn thành bằng tiến sĩ, trong năm 2006, Rejal đến Thung lũng Silicon San José để thực hiện những điều ông mong ước là vĩ đại.

Tiếc thay, ông lại gặp phải với vô số mạng xã hội và công ty game giải trí, nên cuối cùng ông không đạt được như trong trí tưởng và ý muốn.. Vì vậy, ông quyết định trở về Anh.

Bất ngờ thay, tại sân bay, ông đọc thấy một tạp chí nói về Fast Company. Ông đọc rồi bị cuốn hút ngay vào một công ty Hoa Kỳ, có trụ sở mang tên MFG.com, đã tạo ra thị trường sản xuất hàng hóa trực tuyến qua online lớn nhất thế giới. Rejal đã tìm ra con đường của mình đến với nhà sáng lập MFG.com’s, là Mitch Free, và làm việc tại đây để thành lập cơ ngơi danh tiếng MFG.com.

Rejal cũng từng có thời gian đi vào ngành công nghiệp “Năng Lượng Sạch” làm việc một vài năm.
Đây là ngành công nghệ đối với “Sáng kiến Về Khí Hậu- Môi Trường “Clinton Climate Initiative”. Một phần của tổ chức từ Mỹ có tên: Clinton Foundation.


Sự ra đời của Công Ty: 3D Industri.es

Rejal tiếp tục theo ngành sản xuất. Ông quan sát cách tìm ra giải đáp dựa trên nhân lực và nền tảng của web trong công nghiệp để nhìn thấy hình ảnh thích ứng giữa người cầu và người cung ứng cơ phận, hàng hoá, để phù hợp với nhu cầu cung cấp.

Với sự phong phú của các dữ liệu thiết kế, đồ họa từ máy đồ họa (CAD) về không gian 3 chiều (3D) đã có sẵn từ trước trong ngành công nghệ sản xuất, ông tin tưởng một hướng tiến hiệu quả hơn qua sự kết hợp này..

Chắc hẳn rằng hình dạng không gian 3 chiều 3D là một ngôn ngữ dễ hiểu trên thế giới?” Rejal nêu câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra, nếu ta có thể tìm thấy ngay rõ ràng bằng hình ảnh, nghĩa là chỉ cần xem qua 3D ?”

Ông bắt đầu nghiên cứu công nghệ, kỹ thuật của 3D và tìm người tài khắp toàn cầu, tìm người xuất chúng, dẫn đầu trong lĩnh vực này, gạn lọc từ danh sách của mình, đến khi chỉ còn lại một ít các chuyên gia từ các trường đại học Ivy League hàng đầu ở miền Đông Hoa Kỳ cũng như các viện nghiên cứu hàng đầu ở Anh, Châu Âu hoặc xa hơn nữa.

Rejal thuyết phục và mời họ đến London để gặp gỡ và tham dự một triển lãm trưng bày sản xuất của ông để tự họ “đón nhận” lấy thành quả phát minh này. Một trong những cố vấn đáng tin cậy nhất của Rejal, chính là thân sinh của ông, Tiến Sĩ Ali Rejal, sẽ cùng đến các cuộc họp mời gọi các thành viên sáng lập chủ chốt.

Một đội ngũ kỹ thuật tiên phong quốc tế cùng với những người mà thân sinh của Rejal cùng phê duyệt là “tiến vượt trội, có nhiều ưu điểm và đặc tính bổ sung.” Nền tảng đầu tiên được xây dựng, từ đó công ty chính thức hoạt động từ tháng 9-2009.

Ngày nay, khối nhân sự của 3DI team cũng tự hào có một kết hợp lựa chọn đa dạng nhờ sự đam mê và muốn phát triển tài năng, thiết kế và khai sáng cũng như chinh phục. Nicholas O’Donnell-Hoare, là thiết kế trưởng, từng nổi bật với công việc về in bằng 3 chiều (3D) về đồ trang sức của mình, đã giúp tô điểm phụ nữ trong một số các bộ phim Hollywood Blockbuster.


Anh Quốc xứ thiên nhiên và dưỡng dục

Cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu ở Anh gần 250 năm trước. Nó có thể có được những tái phát minh rất tốt, bởi số lượng ngày càng tăng của các công nghệ cây nhà lá vườn khởi đầu giữa các doanh gia (B2B).

London thường được biết đến như một trung tâm dịch vụ tài chính và doanh nghiệp. Kết quả là có rất nhiều các câu chuyện thành công khởi sự công nghệ cao; có xu hướng từ Doanh Nghiệp với Doanh Nghiệp (B2B), tập trung hơn từ Doanh Nghiệp đến Khách Hàng (B2C)”, ông Matthew Stafford, một đối tác thời sinh viên, như một cỗ máy gia tốc khởi sự công nghệ cao đầu tư vào các sinh viên để cùng bắt đầu kinh doanh riêng cho họ, và ông cũng là người đồng sáng lập của Collider12, một tập hợp nhanh chóng tăng trưởng của Doanh Nghiệp Phục Vụ Doanh Nghiệp (B2B).

Stafford và Katie Lewis, có công nghệ internet từ London, được thành lập từ nhóm “9 Others” tạm dịch nhóm bạn “mình và 9 người khác” để kết nối các doanh nghiệp chủ yếu là công nghệ cao cấp, qua bữa ăn hội họp của 10 người dựa trên nguyên tắc, “thành công của bạn đòi hỏi phải có sự trợ giúp của người khác.” Rồi đến tháng 12 năm 2011, Tiến Sĩ Rejal đã đến khai mạc rồi nhậm chức trong “một bữa ăn ngon lành với cửu nhân bang.”

Người Anh bảo thủ nhưng lại rất khiêm tốn về những thành tựu.

Họ ngại công bố ồn ào sôi nổi lấy tiếng, họ luôn khiêm tốn, ẩn dấu về tài năng”, Stafford cho biết. “Khi chúng tôi gặp Seena, bản tính ông như thế. Ông đã không thổ lộ gì về bản thân. Tôi khuyến khích ông xuất hiện bên ngoài để mọi người có thể đón nhận, và làm quen với những phát minh. Đó là sự tự tin: một khi bạn bắt đầu nói về nó, thì có một sự thay đổi thái độ thực sự. Đó là khi bạn bắt đầu thu hút nhân tài cao trong công nghệ và tăng sự tham gia đầu tư bởi vì mọi người nhận thấy tầm mức quan trọng của mình đóng góp…”.

Tại London có rất ít nhà “đầu tư kếch sù” và cũng ít các tay đầu tư hạng vừa so với các công nghệ cao của Mỹ. Nhằm khuyến khích sự tăng trưởng này, chính phủ Anh đã có những ưu đãi như giảm nhiều mặt thuế để các tư nhân tài trợ, cũng như ngành tài trợ trực tiếp có thể khởi động.

Rồi chính nhờ có đầu tư đầu tiên cho công ty 3DI đến từ chính phủ Anh và cũng có một nhà vài nhà đầu tư nhỏ nữa. Gần £200,000 Bảng Anh ($350,000) đóng góp, tạo cho Rejal có thêm tự tin để rời bỏ công việc hàng ngày tại “Quỹ Clinton Foundation”.

Sự ra đời của công ty và các trục liên hệ

Một vài tháng sau bữa ăn tối của nhóm “mình và 9 người khác”, vào tháng 3 năm 2012, việc chi ra một khoản tiền để thực hiện sản phẩm thành hiện thực đã bắt đầu một cách nghiêm túc.
Rejal thúc để đẩy cho phát hành phiên bản beta (phiên bản thử nghiệm) chính thức của sản phẩm đầu tiên của họ trên trang 3Dpartsource.com, trùng với thời điểm khai mạc Thế vận hội tại London tháng Bảy cùng năm. Dù nhỏ, tập thể nhiệt huyết công ty 3DI của công nghệ, các nhà phát triển và nhà thiết kế làm việc trong nhịp hào hứng chỉ có ăn pizza là chính, rồi chú tâm làm Hackathon suốt đêm. (Hackathon là một sự kiện trong đó các lập trình viên máy vi tính và những người khác tham gia vào phát triển phần mềm, bao gồm thiết kế đồ họa, thiết kế giao diện và quản lý dự án, hợp tác chặt chẽ trên các dự án phần mềm (software)

Từ cuộc trò chuyện trên phòng họp thương mại đầu tiên của ông với nhiều nhà sản xuất, Rejal đã tìm thấy niềm đam mê trong ngành công nghiệp để áp dụng chính xác hơn, và làm hiệu quả hệ thống nguồn cung cấp. Trước khi công ty lăn bánh đường trường, công ty thu thập được 400 nhà sản xuất toàn thế giới trong các cơ sở dữ liệu cho 3Dpartsource.com. Vào ngày ra mắt, 3DI gửi email “chào mừng một cuộc cách mạng mới.” Tuy nhiên lúc ấy cũng chỉ có một số ít các hồi báo. Sau khi sự phai nhạt của thất vọng ban đầu, đến việc thực hiện mà ngay cả những cuộc cách mạng cũng đã mất thời gian để xây dựng.

Chúng tôi lập tức biết rằng các nhà sản xuất cần thời gian làm quen với phần 3D tìm nguồn cung ứng và thay đổi để đáp ứng được sự đòi hỏi,” Rejal nói.

Sau đó, đến các trục

Tia sáng hy vọng loé lên ngay từ sát bên hông.

3DI được chia sẻ một phần văn phòng với công ty kiến trúc PDG Associates. Khi Rejal trình bày với họ những gì 3DI có thể làm, các kiến trúc sư tỏ lộ sự cần thiết ứng dụng cho chính ngành kiến trúc của họ.

Nếu bạn nhìn thấy đôi mắt của họ lấp lánh, bạn biết họ đã đón nhận phát minh này rồi.” Rejal nói.

Chỉ trong vòng vài tuần, 3DI đã tạo ra một kế hoạch cho cơ sở hạ tầng mới đã mở đường cho “Chiến lược phổ quát hoàn vũ, ở đâu cũng có”

Được sự đón nhận của các công ty sản xuất, 3DI đã bắt đầu phát triển cho các lĩnh vực khác – bao gồm kiến trúc, đồ trang sức, đồ nội thất, ứng dụng y tế, nghiên cứu khoa học, chơi game trực tuyến, người máy và phụ tùng xe hơi…

Rejal nói: “Trong khi các nhà sản xuất đã gặp được những gì họ khát khao nhất từ 3D, với phần, nguồn cung ứng, chúng ta có thể nhanh chóng nắm lấy những cơ hội kết nối, đã trở thành những nhu cầu khát khao rõ rệt trong các lĩnh vực khác nhau. Các đón nhận được áp dụng gấp rút, nhiều ứng dụng hoàn toàn mới tìm thấy cho 3D tìm kiếm.” Công ty 3DI cần nhận thức được việc cần thiết mở tầm nhìn- học hỏi nơi những người xửdụng có tiềm năng tiềm năng dẫn đến việc tạo lập được Diễn Đàn Sản Xuất (FMF) Tương Lai.

Tương lai kế tiếp của lãnh vực không gian 3 chiều 3DI?

Bên cạnh việc mở rộng học hỏi, và tầm nhìn kiến thức của người dùng qua tìm kiếm nhờ Không Gian 3 Chiều 3D, các tập catalog 3D liệt kê các món hàng và tiếp liệu nhờ 3D và chia sẻ rộng rãi các mô hình 3D, Rejal cho biết một cần thiết cấp bách là tìm kiếm được nhân tài kỹ thuật tại địa phương với giá cả hợp lý vì các dòng của các công ty kỹ thuật lớn của Mỹ đã xâm nhập vào London qua internet, bao gồm cả Google, Amazon và Facebook nữa.

Nhưng cơ hội vẫn luôn tràn đầy những thách thức.

3DI vừa được đảm bảo qua vòng hai của họ, là được tài trợ từ chính phủ Anh và các nhà đầu tư.

JF Brandon, một minh sư của không gian 3 chiều nổi tiếng vì đã giúp tạo ra các Rygo, in 3D lớn nhất ở Bắc Mỹ, tham gia 3DI như một nhà tư vấn vào tháng trước. Ông hy vọng 3DI sẽ dẫn đến nhiều đổi mới hơn.

Ngày càng có nhiều người tải lên các mô hình 3D của họ và áp dụng trực tuyến, internet. Nó thúc đẩy một phong trào hướng tới kỹ thuật và nguồn thiết kế, nhưng chúng ta đang đạt đến giới hạn với những gì mọi người chia sẻ thoải mái “, Brandon cho biết.

Với nhiều nội dung 3D được tạo ra trên online, những người thực hiện và quản lý dữ kiện trực tuyến mở (online open) trở thành lựa chọn trách nhiệm nặng nề hơn, cho chủ dữ liệu database. Dễ dàng truy cập dữ liệu ngày càng trở nên tranh đua, trong khi sự phát triển của cơ sở người dùng ngoài những sáng chế và “nhà sản xuất” mang đến cho các vấn đề xung quanh nhà sáng chế và ứng dụng cần xác thực quyền sở hữu trí tuệ lên hàng đầu. Những vấn đề này tạo ra một nhu cầu lớn hơn về các giải pháp với 3DI.

Rejal nói 3DI hiện đang được cuốn hút giành hơn nhau bởi các chủ cơ sở dữ liệu (database owners) và các cộng đồng trực tuyến (online) của các giải pháp với dữ liệu 3D của các vấn đề công nghệ độc quyền của nó, Brandon đã vạch ra rằng 3DI sẽ không hành động như cảnh sát kiểm soát ai vi phạm bản quyền, mà người dùng vẫn sẽ chịu trách nhiệm cuối cùng.

Cùng với đơn giản và chính xác hơn nguồn dữ liệu 3D, chúng tôi có mục đích tạo cơ sở dữ liệu 3D ‘thông minh’, cho phép cải thiện xác thực của nội dung 3D. Điều này sẽ nâng cao sự tự tin trong việc chia sẻ nội dung 3D trực tuyến và hợp tác, thúc đẩy sự tham gia chuyên nghiệp hơn và làm cơ sở cho việc mở rộng và tăng trưởng của ngành công nghiệp 3D, và chuyển đổi sang áp dụng hàng loạt chính thống “, Rejal nói.

Sau hết, chúng ta có thể đi đến kết luận:

3DI khởi sự tung ra khắp thế giới công cụ tìm kiếm 3D (hình ảnh 3 chiều).

Tác giả: TS Julie Phạm
(Bản Anh ngữ: Forbes 27-3-2013)

(Bài này có thể đọc qua Google Search bản Việt ngữ hoặc Anh ngữ: London-Based Startup 3D Industri.es Aims To Become The Google Of 3D Search by Julie Pham)

Bùiquý Trường Thy- Hoa Khôi 2013-Washington hát “Quê Hương Tuổi Thơ Tôi”
Tuesday, April 23rd, 2013

Đông đảo sinh viên và thân hữu, đồng hương hưởng ứng
tổ chức Hoa Khôi Liên Trường năm 2013 tổ chức thành công tại ĐH Washington- Seattle

Một buổi thi thố tài năng và nhân dáng cho các nữ sinh viên liên trường tham dự kỳ thi Hoa Khôi Liên Trường đã được tổ chức vào chiều thứ Bảy 20 tháng 4 vừa qua tại Thính Đường Kane Hall – Đại Học Washington.

Cuộc thi đã bắt đầu từ 4 giờ chiều trong một không khí vui tươi lành mạnh. Theo lời Ban Tổ Chức thuộc Hội Sinh Viên Việt Nam tại Đại Học Washington cho biết: Đây là một trong những sự kiện sinh hoạt nổi bật của Hội Sinh Viên Việt Nam tại Đại Học University of WA. Đây còn là một cơ hội tốt cho những sinh viên Đại Học gốc Việt đoàn kết với nhau và tìm bạn có nguồn gốc văn hóa và dân tộc Việt giống mình. Năm nay có 16 thí sinh tham dự để chọn ra một sinh viên, được ban giám khảo bình chọn. Ban giám khảo gồm: Dược Sĩ Thái Trần, Chi Linh Nguyễn Giảng viên Việt ngữ ĐH Washington, Bác Sĩ Lý Anh Kiệt (phó chủ tịch CĐ Người Việt-liên Quận Hạt Sno- King), hoa hậu TB Washington, Lynda Phạm, và cô Minh Đức Nguyễn (Helping Link) để bình chọn và trao vương miện Hoa Khôi Liên Trường 2013 là Hoa Khôi Bùiquý Trường -Thy (Trina).
Câu châm ngôn nằm lòng của Hoa Khôi 2013 Bùiquý Trường Thy theo ý của ông Walt Disney là: “Nếu bạn có thể ước mơ tới được, thì bạn có thể đạt tới được” Ngoài ra trong phần trình diễn tài năng, Hoa Khôi Trường Thy trong áo dài trắng, đã trình diễn ca khúc Quê Hương Tuổi Thơ Tôi của Từ Huy rất xuất sắc, góp phần xứng đáng được dành lấy vương miện Hoa Khôi 2013, trong khi một thí ainh khác cũng rất duyên dáng trong áo dài hồng thắm trình diễn đàn tranh trưpớc sự khen ngợi và tán thưởng./.
(Xem tin trên Truyền Hình SBTN-TV, SET, và AAT-TV và website Người Việt Tây Bắc)

Phóng viên của NVTB và Truyền hình SBTN, cùng với truyền hình Á Châu AAT-TV cùng có mặt thu hình ảnh cho bản tin truyền hình và trang báo hàng tuần. Tin phóng sự sẽ được phát trên SBTN -TV và AAT-TV vào thượng tuần tháng 5-2013
Các sinh viên tham dự cuộc thi nói rằng “có nhiều hào hứng mà chúng em vẫn nhớ tới truyền thống họp mặt sinh hoạt tưng bừng cứ mỗi hai năm một lần“.

Chú thích ảnh: Hoa Khôi Bùi quý Trường Thy Trina trong giờ phút vinh quang trước mặt người thân yêu, quan khách và bạn học cùng trường
Ảnh và tin video SBTN-TV Phạm Bảo Đôn: www.donaldpham.com

Từ BS Trần Kim Tuyến, TS Nguyễn Tiến Hưng, NS Anh Bằng trong số những nhân vật thành danh xuất thân từ Điền Hộ tại Cửa Thần Phù
Wednesday, April 17th, 2013

(ảnh chụp tác giả Trần Khánh Liễm và NS Anh Bằng
sau buổi thâu hình DVD-Anh Bằng 2011
)
* Tác giả: TRẦN KHÁNH LIỄM

Điền Hộ có nghĩa người chủ ruộng (tenant), người làm ruộng.

Cái tên này rất may mắn cho tới nay vẫn còn tồn tại. Sở dĩ tôi nói như thế vì các tên làng mạc tạị nhiều nơi bây giờ đã bị thay đổi vì ảnh hưởng của thời cuộc. Nếu cầm bản đồ, tìm lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình, hay nơi ông cha đã nhiều đời sinh cơ lập nghiệp ở đây cũng khó tìm thấy cái tên của làng mình, thôn mình khi xưa.

[gallery]

Một hôm tìm đọc được bài viết về kiến trúc mới tại nơi thánh đường giáo xứ Điền Hộ, một bạn trẻ của thế hệ thứ hai sinh trưởng ở Mỹ, có thể sinh trước khi rời quê hương sau hiệp định Genève, hay sinh sau đó ở trong Nam mà không nhớ được cái địa danh ông cha mình đã sinh sống và lập nghiệp ở đây. Người viết bài đó trên báo Người Việt Tây Bắc ngày 12 tháng 8 năm 2011 nói công trường xây cất tượng Chúa Làm Vua có một phần nhỏ công đóng góp của song thân và em gái mình thay vì là ở nhà thờ Điền Hộ thì lại nói là ở làng Chính Đại.

Chính Đại là một làng lớn nằm ngay tả ngạn cửa Thần Phù khi xưa. Từ đây con sông rẽ ra hai nhánh: phía tả ngạn chạy qua Yên Phẩm, Hảo Nho, Bạch Bát rồi cầu Yên đổ vào sông Đáy. Hữu ngạn đổ vào nhánh sông Càn chạy ra biển mà ông cha chúng tôi thường gọi là Càn Giang.

Chính Đại là một trong những làng có khá nhiều bậc khoa bảng nổi tiếng. Vị quận công cuối cùng là ông Đinh Công Kiểu, Cụ đã gả con gái cho ông cố Trần Văn Kỳ, người đứng ra chiêu dân lập ấp tại cửa Thần Phù.

Em ông Trần Văn Kỳ là Hoà Thượng Quận Công trụ trì tại chùa làng Chính Đại.

Khi chiêu dân lập ấp, cụ Kỳ cũng mang theo một số gia đình họ Đinh tới lập nghiệp tại đây và cư ngụ tại con đường thứ hai tính từ phía trong cùng làng ra, con đường từ bờ đê phía tả ngạn sông Càn, đi tới con đường chính hiện nay từ Chính Đại đi qua nhà thờ tới Điền Hộ tới QL.10 Con đường trong cùng làng là con Đường Giới. Theo sắc lệnh triều đình ban phép chiêu dân lập ấp, có ghi giới hạn vùng đất mới tính từ con đường đầu tiên này, có tên Đường Giới: Càn Giang vi Giới có nghĩa lấy từ đường Giới tả ngạn sông Càn ra tới biển là vùng đất sẽ được khai quang và chiêu dân lập ấp.

Chính Đại là làng lớn như tôi đã nói ở trên, có nhiều bậc khoa bảng nổi tiếng. Từ làng này giòng tộc họ Trần lập nghiệp thành một làng khác lấy tên làng Tòng Chính. Khi xưa Chính Đại có tên tuổi, có họ đạo thuộc xứ Hảo Nho, nơi Linh mục Alexandre de Rhodes, (khi tới cửa Bạng vào ngày 19 tháng 3 năm 1627 ) cùng với linh mục Markez mở lớp truyền giáo. Mấy tháng sau, dân trong vùng biết đến đã kéo nhau tòng giáo. Linh Mục Markez và linh mục Alexandre de Rhodes đã vào cửa Thần Phù truyền giáo và lập giáo xứ đầu tiên tại địa phận Công Giáo đàng ngoài. Khi đó có tên Van No, sau này đổi ra Hiếu Nho rồi Hảo Nho.

Chếch phía bên kia cửa sông Chính Đại là làng Yên Phẩm rồi đến làng Hảo Nho. Gần gũi như thế!

Vì ngăn sông cách trở, nên sự đi lại từ Chính Đại sang làng bên ngoài (làng mới có tên làng Tòng Chính i.e theo đạo) thường có khi có cầu khỉ bắc qua, có khi phải dùng ghe thuyền, gọi là đò ngang.

Trong những năm chiến tranh, làng Chính Đại đã chịu nhiều thiệt thòi vì tính cách chiến lược của nó.

Có nhiều người trong chúng ta từng biết đến chiến lũy Ba Đình. [Ba Đình là ba cái đình ở ba làng Thượng Thọ, Mẫu Thịnh, Mỹ Khê nằm bên trên làng Chính Đại]. Đây là căn cứ chiến thuật, chiến lược của nghĩa quân chống Pháp do Đinh Công Tráng đã lập, nằm dọc theo sông Chính Đại. Chiến lũy Ba Đình đã một thời (1886-1887) làm cho quân Pháp chịu nhiều tổn thất. Để tiến quân vào Ba Đình, quân đội Pháp không thể nào tiến theo phía cửa Chính Đại, vì phải đi qua sông. Binh lính Pháp đã men theo từ quốc lộ số một (bây giờ QL.10), từ phía ngọn núi An Tiêm, men theo núi Quan Lợn, núi Chóp Chài, rồi hữu ngạn sông Chính Đại, một lối khác từ phía huyện Nga Sơn. Sự giao tranh trong suốt năm đã làm cho quân đội Pháp tổn thương. Vào thời chúng tôi, ngay tả ngạn sông Càn, có một gò nhỏ chúng tôi thường ngồi đây câu cá, có mấy mồ mả lính Pháp được chôn tại đây mà ông cha chúng tôi gọi là mả tây. Từ nhà tôi ra đây không đầy một trăm thước tây.

Địa thế chiến lũy Ba Đình hiểm trở, kiên cố, trong hào ngoài lũy, khiến quân Pháp tấn công hai lần đều bị tổn thương, thất bại. Lần tấn công thứ ba quân Pháp thành công, do một vị trong vùng cố vấn cho quân Pháp vì chiến lũy nằm dưới thung lũng, chỉ cần phá đê là nước tràn vào chiến lũy. Quân Pháp nghe theo đã làm theo lời cố vấn, phá đê, nước tràn ngập chiến lũy khiến nghĩa quân phải bỏ chạy. Trong trận này Đinh Công Tráng tử trận, nghĩa binh rút về Mã Cao, miền thượng du tỉnh Thanh Hóa, rồi tan rã.

Biến cố thứ hai là vào mùa Thu năm 1949, khi quân đội Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm, sau đó để mở rộng vùng hoạt động và an toàn cho quân lực trú đóng. Phía Tây Bắc là những căn cứ từ vùng Phúc Nhạc, tới mãi núi Cánh Diều, giữ an toàn di chuyển trên QL.1.

Từ Phát Diệm vào phía Nam: dọc theo Yên Bình, vào Bình Sa, rồi vùng cửa Thần Phù, chiếm cứ cả hai bên phố của hai làng Tòng Chính và làng Văn Đức, phá bình địa cả hai dẫy phố. Dân chúng phải di tản ra Phát Diệm hay một số vào làm nhà chung quanh nhà thờ Điền Hộ.

Căn cứ quân sự của quân đội Pháp quan trọng ở Cửa Thần Phù nhờ họ chiếm cứ núi Sơn Tiền (nay gọi là mỏ đá, vì người ta đã lấy đá ở đây để làm đường). Dẫy núi quan trọng nhất là núi An Tiêm nằm hữu ngạn sông Càn, quân đội Pháp đã đặt đại bác canh chừng sự tiến quân của Việt Cộng trong vùng. Căn cứ chót là núi Chính Đại nằm sát núi Mưỡu thuộc đầu làng Tòng Chính, sát núi Lai Thành. Với ba chốt chiến thuật như thế có thể không đâu tìm được những căn cứ lợi hại như ở đây.

Theo cách bố trí, làng Chính Đại là bìa ngoài vòng chiến thuật, có thể bị bắn phá khi quân đội Pháp thấy có biến động hay trước khi mở các cuộc hành quân vào vùng huyện Nga Sơn. Vì nằm trong vùng tác xạ tự do, dân chúng thường phải lẩn trốn hay di tản sang những làng như làng Thiện, làng Mỹ Phường, Mỹ Quang.

Sau hiệp định Genève 1954, dân chúng hồi cư, nhưng từ từ dân Chính Đại đã chuyển sang định cư tại làng Tòng Chính. Sự thuận tiện của Điền Hộ ở chỗ không phải qua sông, thuận trên bến dưới thuyền, thuận quốc lộ đi từ Phát Diệm vào Nga Sơn, rồi Thanh Hóa. Hơn thế đa số dân làng Tòng Chính đã di cư vào Nam, nên có những căn nhà bỏ trống, có đất làm nhà, có ruộng cấy lúa. Điểm quan trọng vẫn là người từ Chính Đại ra đây nắm chính quyền, nên đã đưa dân của mình tới đây lập nghiệp. Cũng chính thế làng Chính Đại trở nên ít người mà hiện nay không còn làng mà chỉ là xóm 7 xóm 8 thuộc xã Nga Điền (tên mới của làng Tòng Chính mà người ta thường gọi làng Điền Hộ). Chính Đại do đó đã bị xóa tên làng trên bản đồ!

Bây giờ nói tới Điền Hộ thì ai trong vùng cũng lẫn lộn. Điền Hộ là tên giáo xứ Công Giáo bao gồm giáp Đông, giáp Tây, Tòng Chính-Tân Chính có những họ đạo lẻ như Phước Nam, Tân Ân, Mông Ân, Sơn tiền, Nhân Sơn, Hà Thôn.

Tòng Chính là làng thuộc tổng Tân Phong, Huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hoá. Tòng Chính gồm Giáp Đông, giáp Tây, giáp Nam, xen lẫn với Làng Tân Chính gồm Tòng Chính, Mông Ân và Tân Ân (giáp núi Tân Tòng và Hoài Lai). Hai làng Tòng Chính và Tân Tòng nằm ôm nhau như cặp rồng khổng lồ phía tả ngạn sông Càn.

Sự lẫn lộn có thể là vì Điền Hộ là họ đạo lớn, có trước làng Tòng Chính sau khi được thiết lập vào thời chiêu dân lập ấp. Điền Hộ lúc đầu là họ lẻ của giáo xứ Hảo Nho, có tên họ Thần Phù. Sau này vì sự phát triển và thịnh vượng, vùng cửa Thần Phù có khá nhiều xứ đạo, trong đó có Điền Hộ. Vùng này người ta gom thành hạt mà linh mục phụ trách trưởng hạt thường ở xứ Điền Hộ.

So sánh Điền Hộ với Phát Diệm, trước khi cụ Trần Lục xây nhà thờ, Phát Diệm chỉ là một bãi lầy và là một xứ đạo thật nhỏ. Đã có lần giáo quyền muốn dùng Điền Hộ làm trụ sở giáo phận Duyên Hải hay giáo phận Thanh. Nhưng vì nhà thờ Phát Diệm mới xây sau này thật đồ sộ, vì thế được chọn làm trụ sở địa phận, thay vì tên địa phận Duyên Hải hay địa phận Thanh, năm 1924 gọi địa phận Phát Diệm. Phải đợi tới năm 1932 địa phận Phát Diệm chia đôi, giáo phận mới là giáo phận Thanh Hóa, ngay thị xã Thanh Hóa.

Điền Hộ là một trong những vùng phì nhiêu có sinh hoạt rất phồn thịnh, trên bến dưới thuyền, có chợ có phố buôn bán sầm uất. Vào thời chúng tôi khi bắt đầu đi học, lớp chúng tôi được học trong nhà thờ nhỏ gọi là nhà thờ ông Thánh An Tôn. Tuy nhỏ nhưng được xây rất kỹ lưỡng (tác giả có nhắc tới ngôi nhà thờ này trong bài Những Thân Xác Khô Cằn). Bên cạnh là núi hang đá Đức Mẹ.

Sau nhà thờ Thánh Antôn là ngôi nhà thờ bằng gỗ rất kiên cố. Tôi không được biết xây từ thời nào, nhưng tới khi chúng tôi còn nhỏ thì ngôi nhà thờ này đã cũ kỹ lắm (ít nhất cũng lâu trên dưới thế kỷ).

Tới năm 1936, họ đạo bắt đầu xây ngôi nhà thờ mới đồ sộ như chúng ta thấy hiện nay (xem hình trong bài). Ngôi nhà thờ cũ đã được tháo gỡ và bán cho giáo xứ Liên Quy với giá hai ngàn đồng Đông Dương.

Ngôi nhà thờ mới hoàn tất vào năm 1940. Người đốc xây là ông Trần Văn Tộ, cháu nội của cố Trần Văn Kỳ. Người bỏ nhiều tiền nhất là ông Ninh Thế Kiếng, có cơ sở buôn bán tại tỉnh lỵ Thanh Hoá. Trong thời kỳ này một lò vôi được thành lập do sáng kiến của ông Trần Văn Tộ để có vôi xây nhà thờ và để giúp người cháu gái có công ăn việc làm trong khi người chồng đi làm ăn xa. Sau này dư vôi, bán chịu cho nhà thờ Liên Quy. Người cháu này là mẹ của Giám Mục Nguyễn Sơn Lâm và Linh Mục Nguyễn Hữu Duyên.

Không hiểu vì lý do gì, những người nắm quyền thế trong xã là những người từ làng Chính Đại ra đây sau hiệp định Genève 1954. Tên làng Tòng Chính bị bỏ đi và thay thế bằng xã Nga Điềøn, thuộc huyện Nga Sơn (Nga Điền tức Đìền Hộ của huyện Nga Sơn). Tất cả những làng thuộc huyện Nga Sơn từ thời đó đều bắt đầu bằng “Nga”.

Sau khi miền Nam bị xâm chiếm năm 1975. Năm năm sau, tức 1980, dân làng được chính phủ báo cho biết phải đào sông để mở rộng việc giao thông đường thủy. Thế là một con đê mới được thay thế con đê cũ: chạy từ phía trong làng qua ngay trước sân nhà thờ Điền Hộ rồi nối vào QL.10.

Kết quả hai giáp Đông và Giáp Tây của hai chi tộc của hai vị chiêu mộ dân làng biến thành bãi lau sậy: không nhà, không vườn, không ruộng.

Có người nghĩ lại về những va chạm tôn giáo vào thập niên ba mươi, nên người làng Chính Đại muốn trả thù, xóa cả hai dòng tộc. Vị linh mục chánh sở nhà thờ không muốn làng Chính Đại rước kiệu Thần qua nhà thờ mà phải đi theo đường đê tới cầu Điền Hộ. Một cuộc đụng độ lớn đã xảy ra trứơc khi tơiù nhà thờ. Linh Mục Trần Khắc Cần, cháu nội của cụ Trần Văn Kỳ phải nhờ người bạn chí thân là tổng đốc Nguyễn Hữu Bài đứng ra dàn xếp cho êm chuyện. Đây là nguyên do nhiều người thuộc dòng tộc cụ Trần Văn Kỳ nghĩ như thế. Nhưng theo đường lối cộng sản, chẳng riêng gì giáo xứ Điền Hộ mà rất nhiều giáo xứ miền Bắc đã bị thay đổi. Chủ trương của chính quyền là xoá bỏ mọi hình thức cũ, để có ai trở về quê không nhận ra vết tích cũ, tên đường cũ, tên làng cũ của mình. Cũng có những người tưởng lầm rằng vì sự xích mích này mà giáo phận phải dùng 30 mẫu ruộng bên cánh đồng Chưa bồi thường cho làng Chính Đại. Thực ra thì giáo Phận Phát Diệm không hiểu vì sự giao hoán thế nào mà sau này gạt cho ông Nghị Tư 30 mẫu ruộng này. Ông Nghị Tư đã để người vợ kế cư trú và sinh con đẻ cái tại đây. Cũng nên nhắc người con gái của ông nghị Tư (đời vợ trước) đã lập gia đình với con ông Ninh Thế Kiếng (Đời vợ kế), xứ Điền Hộ.

Trong những năm sau này, dân làng từ nhiều nơi, kể cả ở ngoại quốc trở về để thăm quê cha đất tổ, thấy thực buồn cho những năm xưa dân làng sống bình an thịnh vượng. Nay cả hai giòng tộc của hai cố chánh phó chiêu mộ dân làng nhà cửa bị san bằng chỉ còn một giải đất đầy lau sậy thay thế cho những nhà cửa ruộng vườn, con cháu sống sung túc trên giải đất này.

Sau năm 2001 có những người trẻ thuộc thế hệ thứ hai, sau khi thành công, đã trở về thăm làng và muốn tu bổ lại ngôi thánh đường. Nhờ sự kêu gọi của Giám Mục Nguyễn Sơn Lâm, đồng hương kẻ ít người nhiều đã đóng góp để trùng tu ngôi giáo đường. Điểm nổi bật nhất là con cháu dòng tộc cụ Ninh Thế Kiếng đã đóng góp nhiều nhất cho việc trùng tu này.

Cách đây mấy năm, con cháu về thực hiện công tác xã hội, phát thuốc cho dân chúng trong một số năm, nhờ đó chính quyền đã dễ dãi cho xây tượng chúa KiTô vua ở hồ trước cửa nhà thờ. Công việc này do Bác Sĩ Trần Bích Thùy con ông bà Trần Tấn Mùi (là anh ruột nhạc sỹ Anh Bằng) về thực hiện vào tháng 7 năm 2011. Không biết các cháu có được ai nói cho biết là cha, chú, bác của mình đã một thời từng đóng góp những khúc hát ca dội vang trong các nghi thức phụng vụ tại ngôi giáo đường này hay không!.

Đây là công trình rất khang trang làm nổi bật quang cảnh giáo đường.

Điền Hộ là giáo xứ trù phú, có nhiều ruộng nương nhất vùng huyện Nga Sơn (tôi sẽ nói nhiều khi viết về vị đứng ra chiêu dân lập ấp tại Cửa Thần Phù).

Vào thập niên 1940 tới 1950 là những năm thịnh vượng nhất của Điền Hộ: Dân chúng sống trong cảnh thanh bình, an vui, trù phú. Phố xá đông đúc, chợ búa tấp nập và là một trong những nơi phân phối những hải sản và thủy sản quý vùng Cửa thần Phù cho các vùng Phát Diệm, Ninh Bình và chuyển tải cả những hải sản, thủy sản quý lên Nam Định, Hà Nội, đặc biệt cua lột và tôm he!

Điền Hộ là nơi có nhiều lúa gạo được chuyển tải vào Thanh Hóa, có cói, có chiếu bán ra vùng Phát Diệm, có tơ tằm.

Cảnh sống sung túc trên bến dưới thuyền, đặc biệt có đường thủy với nhiều ca nô như Hồng Bàng, Đại Bàng và nhiều ca nô khác được đóng ngay ở đây, cung cấp phương tiện di chuyển cho dân trong vùng từ Phát Diệm, Cầu Yên, Điền Hộ, Chính Đại, Đền Sòng, Đò Lèn tới cầu Hàm Rồng, tỉnh lỵ Thanh Hóa.

Điền Hộ cũng là bến của những lâm sản, những bè nứa, bè luồng và các loại gỗ qúy từ mạn ngược Thanh Hóa chở về đây, cung cấp nhu cầu xây cất nhà cửa tại địa phương và các vùng lân cận như Phát Diệm và một phần tỉnh Ninh Bình. Điền Hộ cũng là nơi rất nhiều chum vại từ Lò Chum, một trung tâm sản xuất đồ gốm thật lớn tại tỉnh lỵ Thanh Hoá phía nam cầu Hàm Rồng (đối diện với phía bắc là Đông Sơn của văn minh Trống Đồng), chở về đây để phân phối trong khắp vùng. Nước mắm kẻ Bạng (Ba Làng) được chở vào cửa Thần Phù để từ đây phân phối đi trong vùng rất nổi tiếng.

Giữa cảnh sinh hoạt ngày mùa: nào vợ, nào chồng bận bã trong việc đồng áng. Những cánh đồng xanh ngát hàng hàng lớp lớp trong vùng chiêu dân lập ấp tại cửa Thần Phù. Tiếng hát đúm, hát quan họ vẳng lên từ những ruộng lúa con gái đang có đòng đòng chờ ngày trở bông của trai gái trao đổi tình tứ vớiù nhau.

Những sân rộng phơi lúa, những cót lúa đầy ắp thóc sau ngày gặt lúa. Rồi những tháng sau ngày mùa, người dân có đầy đủ những thứ sinh hoạt vui chơi: đánh bẫy chim ngói, con nào cũng béo ngậy, đánh bẫy mòng két để rồi xào nấu hay hấp, thêm vào những mùi vị khắp xóm, những chú chim xanh từ núi Chắp Chài béo lân.

Xóm làng sau ngày mùa, mùi chả nướng hòa nhập với gạo thơm: gạo dự, gạo tám thơm còn gì thú vị và tình tự khi vợ chồng an vui cảnh thái bình sau ngày mùa, ngồi chia nhau những món hảo vị hòa theo mùi thơm của rượu tăm nổi bọt!.

Khi gió heo may bắt đầu nổi cơn, trai tráng trong làng đã chuẩn bị sáo diều, thả những con diều lên cao tắp tít trên bẩu trời. Đêm khuya tiếng sáo đổi chiều thay giọng, chao đảo theo chiều gió đem lại tiếng vi vu vẳng từ dẫy núi Chóp Chài, núi quan Lợn vang sang phía núi Chính Đại ru ngủ giấc bình an cho khắp dân làng.

Những buổi chiều tà, trai gái từ thánh đường sau buổi kinh chiều, lũ lượt đi về các xóm: xóm trong, xóm ngoài, chuyện trò ồn ào vui vẻ trong cảnh thanh bình.

Nói về phong thủy thì Điền Hộ là đất phát (dĩ nhiên vì là đất bồi). Ở Đầu làng, khi con sông Càn đổi chiều tại đầu làng (có cây đa cổ thụ), thì giòng tộc ông cố Thủy, họ ngoại của mẹ tôi đều làm ăn khá giả: của dư của để, con cháu đều khá. Từ xóm trong trở ra thuộc dòng tộc cố Trần văn Kỳ, con cháu thay phiên nhau làm lý trưởng, chánh tổng, trông coi việc làng việc nước. Khi qua đình làng là đến lò vôi chị họ tôi là bà trùm Phương, giòng sông đổi chiều. Nước sông xoáy mà địa lý Tả Ao gọi là đất kết, chị họ tôi có người con trai đầu lòng làm giám mục. Cũng tại nơi đây, cả giòng tộc cố phó Trần Văn Sao đều làm ăn khá giả và thành công. Nhìn lại cả hai giòng họ nội, họ ngọai của chúng tôi đều sống sung túc.

Khi tới cây bồ đề già cỗi trong làng thì giòng sông đổi chiều ngay trước cửa nhà cô chú của tôi. Phong thủy đẹp và mang lại sự sung túc, giầu sang phú quý: Người con cả làm linh mục, tiến sỹ văn chương Pháp, làm tại Hàn lâm viện Pháp ở Paris, người con thứ làm Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục VNCH, người con gái lấy quận trưởng Nga Sơn, hai người con trai đỗ khoa bảng, một trong hai đã làm Tổng Truởng Kế Hoạch cho Chính Phủ VNCH. Những người con khác cũng rất thành công và đỗ đạt.

Nhích ra một chút là phố xá thịnh vượng, trên bến dưới thuyền. Hai dẫy phố Điền Hộ xây cất đẹp đẽ có đủ mọi mặt hàng cửa tiệm đều thuộc con cháu hai giòng họ của vị đã đứng ra chiêu mộ dân làng. Qua cầu Điền Hộ, nơi phố đối diện có hai ba cơ sở buôn bán, có hai cửa hiệu thuốc Bắc, một tiệm đã có lâu đời của cụ Hội Châu. Cụ là vị thày thuốc được uy tín trong vùng. Nhà cụ có phong cảnh đẹp, có núi non bộ, có bến dưới sông trông thật ngoạn mục. Cụ giáo Tuyển có nhà rộng bên sông. Cụ là thày dạy chữ nghĩa cho những con cháu trong làng để gánh vác việc công. Khu này người ta gọi là khu núi Sơn Tiền, thuộc làng Văn Đức. Tục truyền khi xưa người Tầu thu tích của, chôn ở một hang trong núi này. Người Tầu thường bắt con gái còn trinh, miệng ngậm sâm, bị chôn vào nơi giấu của chờ ngày trở lại, đục hang lấy của trước kia đã cất tại đây. Bây giờ núi Sơn tiền bị phá để lấy đá, người ta gọi mỏ đá.

Xuôi giòng sông Càn, tới phước Nam có giòng họ cụ Hàn Hiệp buôn bán thành công. Nhà ông Tri Lượng có hai người con thành đạt, người con trưởng là bác sỹ, một thời nổi danh trong sở Nghiên Cứu Chính Trị của chính phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Tiếp theo là Mông Ân, Tân Ân, rồi đến những cánh đồng thẳng cánh cò bay cho tới làng Văn Hải, tức giáo xứ Văn Hải thuộc địa phận Phát Diệm. Khu này do cố Trần Văn Kỳ dâng cúng Giáo phận khi cụ Trần Lục xây cất nhà thờ Phát Diệm.

Cụ Trần Lục và cụ Trần Văn Kỳ là bạn với nhau từ thuở thiếu thời. Có lần cả hai cụ cùng bị giam một nơi với nhau trong thời kỳ cấm đạo. Cụ Kỳ hơn cụ Trần Lục 5 tuổi. Khi cụ kỳ mãn phần, trong đám táng cụ Trần Lục cỡi ngựa trắng về để tiễn đưa người bạn của mình tới nơi an nghỉ cuối cùng.

Houston 12 April 2013.

Trần Khánh Liễm

M.L.K Business Association và Plate of Nations lên Truyền hình KOMO-4
Friday, April 5th, 2013

Trong hai tuần vừa qua một số nhà hàng đa sắc dân trong quãng đường M.L.King Seattle đã có chương trình giảm giá các món ăn để thu hút khách xa gần. Đây là một sinh hoạt đầu mùa Xuân hàng năm nhằm quảng bá sinh hoạt thương mại của khu phố khu vực ảnh hưởng của xe Tốc Hành. Một số báo chí địa phương và truyền hình Komo 4TV đã thu hình ảnh để giới thiệu hàng năm. Ảnh XNV Mary Nam-KOMO-TV và Julie Phạm (chủ tịch MLK Business Assoc) trong buổi giới thiệu Plate of Nations. Một số nhà hàng Việt Nam như Rainier BBQ, Bún Bò Huế Hoàng Lan từ 10 năm qua trở thành rất quen thuộc qua Plate of Nations được bảo trợ bởi Vulcan, HomeSight, MLKBA, Rainier Valley CDF và office of Economic Development City of Seattle.

Ảnh tin phóng sự truyền hình Komo 4-TV có thể xem qua Trang Chính www.NVnorthwest.com

CD “Trái Tim Ngoan-dòng nhạc Anh Bằng” dấu ấn 50 năm sáng tác.
Wednesday, April 3rd, 2013

Nhạc Sĩ Anh Bằng, năm nay ngoài 88 tuổi, người sáng lập Trung Tâm Asia. Từ khi rời đất nước năm 1975, khi ra đi tị nạn lúc đó ông đã mang theo mình một gia tài có trên 350 sáng tác âm nhạc- rất nhiều nhạc phẩm cũng như một vài kịch bản đã nổi tiếng trong quần chúng.
Tên tuổi của ông quen thuộc từ năm 1963-64 trên làn Sóng Phát Thanh SàGòn, dĩa nhạc trước năm 1975. Tác phẩm “Nỗi Lòng Người Đi” là một ca khúc ra đời sau, hàng chục ca khúc đã nổi tiếng ngay được sáng tác từ trước đó như là: “Nếu Vắng Anh“, “Nửa Đêm Biên Giới”, “Tiếng Ca U Hoài”, “Lẻ Bóng”, “Đôi Bóng”, “Chuyện Tình Lan và Điệp” đã gây làn sóng vang dội đã được đón nhận trong khoảng trên 40 năm hàng ngày được phát đi trên các làn sóng điện đài phát thanh và Chương Trình Phát Thanh Thương Mại (Ngô Bảo) sau đó khoảng 1964-1965 lại còn có “Nỗi Lòng Người Đi”, “Đêm Nguyện Cầu” được phát thanh nhiều hàng ngày khiến nhiều người dễ nhớ tới trong thời gian chiến tranh, dễ làm lòng người xao xuyến. .. Đấy là chưa kể tới một số bút hiệu khác, hoặc chỉ một thính giả tâm sự một nỗi lòng, đã được ông cho đứng tên cùng bản nhạc. Lý do rất dễ hiểu là ông rất khiêm tốn, không muốn trong một chương trình phát thanh mà cứ nghe lại tới vài lần tên “tác giả Anh Bằng
Gần đây ông sáng tác một số nhạc trữ tình, sâu đậm với đầy chắt chiu, như “con tằm đến thác“, hãy còn tha thiết vương tơ như một đóng góp lớn lao hiếm có trong làng âm nhạc Việt Nam- (như các bài viết của Du Tử Lê và các nhà phê bình âm nhạc hiện đại)
Giống như ở Việt Nam trước đây, tại Hoa Kỳ Nhạc sĩ Anh Bằng vẫn có khá nhiều những ca khúc được ưa chuộng nhất- “hot” nhất trong vài năm qua. Đáng kể nhất một số sáng tác mới nhất năm 2010 tới năm 2013, vẫn luôn sống động, thu hút đắm đuối thiết tha như chưa bao giờ có thể tha thiết với cuộc sống và một trái tim tràn rung cảm.
CD Trái Tim Ngoan- Dòng Nhạc Anh Bằng với tiếng hát Nguyên Khang cũng như nhiều ca sĩ khác Y Phương, Lâm Thúy Vân, Hoàng Anh Thư của Trung Tâm Asia và Ngọc Lan (trước 2001) của Mây Production đã một phần nào là nhân chứng cho sức sáng tác mãnh liệt của người nhạc sĩ thừa hưởng tặng phẩm của niềm tin, người chủng sinh xuất sắc âm nhạc từ thời học Chủng Viện Ba Làng- Thanh Hóa (1940-41). “Trái tim ngoan” của Anh Bằng vẫn còn mãi thiết tha cho đến cuối đời.
Khán thính giả đang chờ nghe những tình tự, trữ tình thiết tha của cuối đời người nghệ sĩ cổ thụ trong năm tháng rất gần …/.
(K. L.)

Phạm Kim viết về: Nhạc Sĩ Anh Bằng- Một Đời Cho Âm Nhạc, nhìn lại sau hơn 50 năm sáng tác
Wednesday, April 3rd, 2013

Khi nghe CD “Anh Còn Yêu Em…” trình làng trong năm 2008 của Anh Bằng (phổ thơ Phan Thành Tài) cùng với “Khúc Thụy Du” (phổ thơ Du Tử Lê), chúng ta thấy mélody qua dòng nhạc của người nhạc sĩ từng trải mênh mang như sóng nhưng cũng trổi dậy căng tràn nhựa mới.

Người phụ trách nhạc yêu cầu trên SBTN-TV, Orchid Lâm Quỳnh cho biết “Anh Còn Yêu Em” là ca khúc top hit được yêu cầu liên miên trên truyền hình. Với lời thơ: “Anh còn yêu em, Nụ hôn sim tím, áo nhàu qua đêm” “Anh còn yêu em, như rừng lửa cháy, anh còn yêu em, như ngày xưa ấy, Anh còn yêu em, đường xanh ngực nở, Anh còn yêu em lồng tim rạn vỡ, anh còn yêu em, bờ vai mười sáu… Nồng nàn hương ấm ”, và “ Bạch đàn thâu đêm, Thầm thì tóc rũ … chiều xuống mờ sương, cửa đóng rèm buông- Gối kề bên gối, môi kề bên môi “… “ Buồm trăng dương cánh, khi biển triều lên, sóng xa êm đềm” “Anh còn yêu em- Chênh vênh mi buồn”, mélody của ca khúc này bắt được bằng những rung động của lời thơ, như chính Anh Bằng là người làm thơ, sống động như đó là nội dung cuộc sống của ông.

Đồng thời còn có những bài hát khác cũng phổ từ những lời thơ như “ Anh còn yêu em, bờ vai 16” hay “Anh biết em đi chẳng trở về ”, nghe âm điệu cứ như là những ca khúc trẻ nào như của lứa tuổi mới lớn, 18- đôi mươi của ông từ trên nửa thế kỷ trước “Nỗi Lòng Người Đi”: “Tôi Xa Hà Nội năm lên 18, khi vừa biết yêu…”. Nên CD “ Anh Còn Yêu Em” xuất hiện năm 2008, Anh Bằng như trở lại thời mới lớn khi vừa mới biết yêu? Từ đấy, người thưởng ngoạn hình dung được rằng: Anh Bằng sáng tác bởi chính cuộc sống lãng mạn rung cảm đắm say của ông.

Tại sao?

Cuộc đời của Anh Bằng, sinh năm 1925, đã trải dài ra, từ “những đồi sim” lớn lên thời có cao trào kháng chiến Văn Cao, Hữu Loan (thập niên 1940- 1950), ở vùng cửa Thần Phù Điền Hộ, Thanh Hóa, tới những đêm lắng nghe tiếng hàng bạch đàn gió lay, như tóc xoã ở Quy Nhơn (1957 và thập niên 1960). Đến Hoa Kỳ tiếp sáng tác những ca khúc sáng tác từ cảm nhận khi sống bỡ ngỡ những năm đầu tỵ nạn, bát ngát đồi hoa tím ở thành phố nhỏ dưới 5,000 dân ở (Enumclaw) thuộc Tiểu Bang Washington tới Quận Cam: Rung cảm khi nhớ lại đồi ấu thơ, cánh buồm căng tuổi trẻ và chênh vênh ở tuổi bất cứ nào khi nhìn nhau qua hàng mi buồn nuối tiếc- Chênh vênh như gần như xa- bên nhau trong quán trên đồi gió cao, như thấy sóng biển, lảo đảo chênh vênh mất mát.. những hứng khởi trữ tình rất mới vượt qua lằn ranh thời nhạc phổ thông trở thành trữ tình mang tính thính phòng, sang cả và “ấn tượng” với cảm hứng từ thơ “mới” Du Tử Lê, Nguyễn Khoa Điềm, B.H., Phan Thành Tài … mang cho ông một vóc dáng cuốn hút thính giả những ấn tượng mới mẻ lịch lãm và sang cả…

Theo nhà văn Trần Khánh Liễm: ”Ba Làng có hai vườn thông thật đẹp và đầy mơ mộng, mà những ai thích nhạc đều ra đó để lấy cảm hứng. Những buổi chiều Chúa Nhật các tu sĩ của Tiểu Chủng Viện thường lên núi Thủi chơi. Nơi này có những đồi hoa sim trùng trùng lớp lớp- mấy trăm mẫu trải dài cho tới sườn núi và tận cùng ra tới biển với những tảng đá to lớn phía cạnh bãi. Những đêm khuya khi trời đẹp chỉ nghe tiếng sóng êm từ từ đổ, để ru hồn người vào giấc đông miên.. Còn khi biển động thì … ôi thôi, sóng lớn như vỡ bờ! ”
Trong đời sống thực, Anh Bằng đã rời Sài Gòn trong chuyến bay từ Tân Sơn Nhất vào ngày 29 tháng Tư, cùng với vài người con, trong số đó có Thy Vân vừa tuổi trăng tròn, Sơn, Dân nhưng vợ ông và người con gái tên Yến (Nam) còn kẹt lại, đi sau. Ông đến trại tị nạn Fort Chaffee-Arkansas, được một phi công (Mr Tom) của hãng hàng không Alaska bảo trợ đến Connecticut, rồi sau đó đạo diễn Trần Thăng giúp về định cư tại Enumclaw, ngoại ô Seattle. Tại đây, Thy Vân đã tốt nghiệp trung học, trước khi cả gia đình (thêm Trần Ngọc Sơn, Trần An Thanh) di chuyển về ở Quận Cam và chủ trương Trung Tâm Asia. Tên các con của ông từng được đặt nói lên tấm lòng của ông như: Dân, Việt và Nam…

Và phải chăng như nhà thơ Du Tử Lê thổ lộ trong đoạn “ Hãy nói về cuộc đời- khi tôi không còn nữa!! ”

“Hãy nói về cuộc đời”: Ngay khi tác giả nay còn sống quanh ta đâu đây, thì đáng quí hơn là khi tác giả đã ra đi mất rồi, mới ca tụng chiêu hồn sao?

* “Nỗi Lòng Người Đi”… Tôi Xa Hà Nội, khi lên 18 khi vừa biết yêu”...

Anh Bằng sinh ra và lớn lên tại vùng đất phù sa Tân Bồi, Thần Phù, làng Điền Hộ- Thanh Hóa. Năm 1951, người anh của ông là Đại úy Trần An Lạc, chỉ huy trưởng Lực Lượng Tự Vệ của Đức Cha Lê Hữu Từ, bị Việt Minh lùng bắt gắt gao. Cùng lúc Việt Minh muốn đe dọa Đại úy Trần An Lạc, nên đã dọa trấn áp cả các người anh em là: anh cả, nhạc sĩ Trần Văn Mão và hai người em, là ông Trần Tấn Mùi (trước 1975 là dân cử của Tỉnh Lâm Đồng-VN) với cậu em út Anh Bằng nhỏ tuổi, để tiêu diệt lòng cương quyết bảo vệ khu tự trị do lệnh của Giám Mục Lê Hữu Từ, … vì ông chỉ huy trưởng Tự Vệ-Trần An Lạc vẫn không chịu ra hàng!!

Vì Anh Bằng không ra khỏi “vùng Tề” và khu Tư (từ Thanh Hóa tới Nghệ An) để trốn tránh như các người anh khác, nên đã bị bắt, bị kết án và đi tù Lý Bá Sơ… Mãi đến khi Việt Minh ám sát được Đại Úy Trần An Lạc, người không ở trong quân đội, nhưng từng xuất ngoại, kể cả Tân Gia Ba, (trong lúc ông này ngồi trên xe jeep chỉ huy từ tòa Đức Giám Mục Lê Hữu Từ đi ra, bị mai phục bắn hạ-ngay cổng Tòa Giám Mục Phát Diệm, từ đó án đe dọa cho mấy anh em mới không còn nhắc tới đe dọa nữa. Theo lời ông Thơ Đường-Phạm Ngọc Pháp, phụ tá Linh Mục Nhạc (tại Ấp Hàng Dầu-Chí Hòa có Giáo Xứ An Lạc) kể rằng tên giáo xứ An Lạc- Chí Hòa  đã được đặt cho một xóm họ đạo di cư tân lập sau 1957 ở ngoại ô Sài Gòn- vùng Ông Tạ). Nhưng ông Anh Bằng vẫn còn bị giam tù với những cực hình khắt khe, trong khoảng thời gian Tây nhẩy dù xuống Phát Diệm, Việt Minh đang nỗ lực chuẩn bị mặt trận Điện Biên Phủ. Rồi Pháp thua trận Điện Biên, rồi mãi cho đến khi có Hiệp Định Genève thì mới được thả- gia đình đi đón Anh Bằng về. Thân hình đúng nghĩa chỉ còn “da bọc xương”, mang theo trí nhớ một ca khúc Anh Bằng viết trong tù: “ Tiếng Hò Sông Chu”, là con sông chảy ngang trong ký ức người tù. Anh Bằng đưa vợ con vào Nam. Vợ ông, Trần Thị Khiết, người bạn đời giản dị bình thường, vẫn gắn bó chung dưới một mái nhà Quận Cam trên 60 năm qua..

Nhiều người dân làng còn nhắc nhớ, nhà văn Trần Khánh Liễm nói: “có một thời 3 anh em ông Anh Bằng, có người anh cả là nhạc sĩ đàn harmonium và phong cầm rồi đến hai “ca sĩ” Trần Tấn Mùi và Anh Bằng là các giọng hát chính: Ông Trần Tấn Mùi là giọng hát nam solo, hai anh em cùng có giọng hát nổi tiếng át hẳn bạn đồng lứa”.

Các tiếng đàn tiếng hát đồng lớp với Anh Bằng lúc bấy giờ là Linh Mục Hương Tiến, Linh Mục Đinh Trí Thức, ông Ninh Phúc Duật, và Trần Khắc Kỷ (cụ Chánh Kỷ đã qua đời gần đây tại Nam Cali), cũng như một số bạn lớp trên như Linh Mục Thanh Lãng, GS Phạm Việt Tuyền, LM Nguyễn Duy Vi, Nguyễn Hữu Chỉnh, Đức Giám Mục Nguyễn Sơn Lâm, LM Trần Khắc Hỉ (học trên 2 lớp), Vĩnh Phò, Phạm Tế Mỹ, chánh án toà nhân dân Phan Ngọc Hoan (thân phụ của cựu viên chức Tình Báo Trung Ương thời Nguyễn Văn Thiệu-Phan Ngọc Huấn, cũng là bố vợ của nhạc sĩ Lê Văn Khoa), những người trong làng danh tiếng như Sơn Điền-Vũ Ngọc Ánh, Sư Huynh Phạm Ngọc Hóa (hiệu trưởng LaSan Taberd/ Viện Đại Học La San), Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Nhạc sĩ Nguyễn Khắc Cung (cùng người Điền Hộ), giám đốc Viện Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, thân phụ ông Cung là cụ Bố Chánh Tỉnh Thái Bình Nguyễn Lập Lễ. Ngoài ra, Anh Bằng cũng là lớp đàn anh tại Ba Làng của Trần Khánh Liễm, Thượng Nghị Sĩ Nguyễn Gia Hiến, Nguyễn Tiến Hỷ (học trên Anh Bằng 2 lớp), Đàm Quang Hưng, TS Nguyễn Xuân Phong, TS Nguyễn Tiến Hưng (phụ tá Tổng Thống, đặc trách Liên Bộ, đặc trách kế hoạch VNCH), trẻ nhất là nhạc sĩ Trường Sa, GS Phạm Thiên Hùng, Trần Anh Liễn. Đồng thời một vài nhân vật kể trên cũng đều là bà con họ hàng, làng nước với nhạc sĩ Anh Bằng. Sau ngày gia đình đón từ Lý Bá Sơ (Trại Giam Số 5) năm 1953 trở về làng Điền Hộ. Cũng có người kể lại ông có thời từng lên võ đài tranh giải Quyền Anh trước khi chuyển ra Nam Định và Hà Nội trước khi theo làn sóng di cư vào Nam, trôi dạt không có một mảnh giấy tờ, lý lịch nào của những năm học chuyên cần, xuất sắc từ Ba Làng nữa.

Những người bạn đồng trang lứa hoặc nhỏ tuổi hơn nhưng có đầy đủ giấy tờ bằng cấp từ những năm học Ba Làng, thì đã được giữ những chức vụ khá lớn. Còn Anh Bằng sau tháng năm tù đầy trở về với hai bàn tay trắng, may nhờ vào Pháp ngữ rất thông suốt, Anh ngữ cũng khá giỏi và cũng nhờ thời gian tự học với một vài trí thức trong tù, ông lại trở thành một nghệ sĩ sáng tác nhạc. Trách vụ này, ông đã đa mang trên vai tròn suốt một đời sau đó.

Vào Nam, ông phục vụ quân đội trong ngành Công Binh từ 1957, ở Quy Nhơn (lúc ấy Thy Vân mới vừa ra đời sau các anh chị mang tên: Dân, Việt, và Nam). Sau đó ông được chuyển về Tiểu Đoàn Chiến Tranh Tâm Lý nhờ sáng tác các vở kịch đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, suốt thời gian này gia đình nhạc sĩ Anh Bằng từ xa thỉnh thoảng liên lạc với họ hàng anh em.

Giải ngũ năm 1962, khi đang được trọng dụng nhờ tài năng văn nghệ trong Tiểu Đoàn Chiến Tranh Tâm Lý, ông liên lạc lại được với anh em họ hàng ruột thịt, sau đó ông cùng vợ con về sống tại Bà Chiểu. Đây là quãng thời gian ông sáng tác rất mạnh, và gắn bó chặt chẽ gần gụi với các hệ thống truyền thanh Quốc Gia và tư nhân.

* Tâm hồn nhạc sĩ luôn sống động, như mãi vẫn tươi mới.

Trong khoảng thời gian 1956-1958, Anh Bằng soạn vở kịch thơ dài khoảng 3 giờ “Đứa Con Nuôi” đoạt giải thưởng hạng nhất của giải thưởng văn học nghệ thuật và kịch nghệ của Tổng Thống VNCH. Liên tiếp những năm sau đó, ông soạn thêm những vở kịch nổi danh thời ấy như: Hoa Tàn Trên Đất Địch, Lẽ Sống và Nát Tan…

Những vở kịch này đã được các đài phát thanh diễn lại nhiều lần, nhưng chẳng ai biết Anh Bằng là tác giả! Ông thích sống đời nghệ sĩ tự do, và phát triển trong lãnh vực sản

xuất âm nhạc, phát thanh, ông liên tiếp có nhiều tác phẩm “best seller” và lập nhiều cơ sở kinh doanh liên hệ đến ca nhạc, như 3 quán ca nhạc Làng Văn, gần sân vận động Hoa Lư, một quán khác tại Ngã Tư Bẩy Hiền…

Cuộc sống vẫn thật yên tịnh, ông luôn tự chế, chỉ muốn là người nghệ sĩ hết sức lãng mạn, nhưng không bao giờ đi quá xa, và giữ được vai trò người cha gương mẫu trong gia đình, một nghệ sĩ chừng mực, nghiêm chỉnh sáng tạo.

Nhờ tài năng diễn xuất kịch nghệ, được trọng dụng trong quân đội một cách công bằng, ông luôn khiêm tốn, chừng mực. Là tác giả không ai ngờ được của các khẩu hiệu tuyên truyền, các bài viết chiến dịch cho “Binh Méo-Cai Tròn”, “Huynh Đệ Chi Binh” thường được ban hài hước nổi tiếng nhất thời ấy là “Ban kích động nhạc AVT” trình bày, với mục đích nêu cao tâm tình của người lính, tránh chia rẽ.

Nhạc sĩ Anh Bằng thường nhớ lại những năm cuộc chiến cao độ, thính giả ái mộ và yêu mến ca nhạc chính là anh em quân nhân tiền tuyến hoặc hậu phương và những người tình, người thân yêu của lính… Đó là thời thành tựu của những ca khúc hát mỗi ngày, trên hệ thống Phát Thanh Thương Mại tại Sài Gòn. Khi ca khúc “chạm” đến trái tim người nghe rồi sẽ được yêu mến, đón nhận, chỉ giản dị thế thôi… Như ”Nửa Đêm Biên Giới”, “ Căn Nhà Ngoại Ô”…v.v… dành cho đại chúng, và sau này ”Khúc Thụy Du”, hoặc cuối đời: “Anh Còn Yêu Em”, thoả mãn cả mọi thính giả dù là kén chọn nhạc, khó tính, thích nội dung bài hát có chiều sâu ý nghĩa, hay là đại chúng thính giả ưa nhạc đa sầu đa cảm.

Cũng như những năm ở hải ngoại này (lần thứ nhì lập nghiệp trở lại, cũng giống như bao nhiêu năm trước tại quê nhà, vẫn bắt đầu lại từ đầu với hai bàn tay trắng), sáng tác của Anh Bằng có thêm những nét xúc cảm mới, đưa vào dòng nhạc mélody của sức sống mới dựa trên kho tàng âm nhạc Việt, bằng xúc cảm vượt trội hơn cả so với những nhạc sĩ đã thành danh trước đây. Lớn lên trong âm hưởûng dân ca, những ca khúc từ giáo đường, thời lên 6 tuổi đã “kéo” đàn Nhị lưu loát…

Những người hát nhạc Anh Bằng, như Nguyên Khang, Y Phương, Thiên Kim, Hoàng Anh Thư họ thể hiện thật tươi mới qua các DVD và CD Asia trong vài ba năm gần đây… Họ cũng khiến ta liên tưởng tới mươi năm trước với Như Quỳnh, Mạnh Đình tiếng hát sở trường những khúc hát mộc mạc bình dị như “Chuyện Tình Hoa Trắng”, “ Chuyện Giàn Hoa Thiên Lý, Cô Bé Môi Hồng, “Chuyện Tình Hoa Sim”, bài hát ra đời sau nhưng vẫn tươi mới hơn những ca khúc tương tự về đồi hoa sim thơ Hữu Loan, đã vang dội sân trường Thanh Hóa (quê Hữu Loan), nối lên cùng với Sông Lô của Văn Cao rung động cả vùng khu Tư, trong lúc ấy Anh Bằng đang được các Linh Mục giáo dục và cho học thuộc các sách nhạc như Cantique de la Jeunesse của nhà dòng.

Từ thập niên 1965-1975, với những ca khúc top hit như: Nếu Vắng Anh, Giấc Ngủ Cô Đơn, và khi sang đến hàng loạt sáng tác như “Chuyện Tình Lan Và Điệp 1, 2, 3.. ” ra đời cùng với các nhạc phẩm khác của hãng dĩa Sóng Nhạc, cũng như hợp tác thêm với hãng dĩa Continental, Sơn Ca bằng những hợp đồng “ăn khách”..
Một hai nhạc sĩ tên tuổi đã cùng xác nhận: “lúc ấy Anh Bằng đã là người nhạc sĩ sống rất phong lưu, bằng tài riêng và sự chuyên cần, hoàn toàn do tự mình tạo ra; đi lại bằng xe Toyota tư nhân mới, tiền bạc vô nhiều không kể”, “không nhạc sĩ sáng tác hoặc nhà văn có tác phẩm nào có thể giầu bằng”.

Có nhiều người vẫn nêu câu hỏi: “Tại sao tác giả Anh Bằng lại sống thầm kín, khiêm cung, tránh cho in hình (dù là một nghệ sĩ … rất ăn ảnh) và tránh trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí?..”

Có lẽ phải hiểu được ông vì bị chi phối bởi quan niệm cổ về nghiệp “xướng ca…”: Dù rất thành công về tài chánh và trở thành ‘bố già‘ trong lãnh vực nghệ thuật sân khấu, ông không hề khuyến khích hoặc đào tạo con cháu nối tiếp đường đi của ông, ngoại trừ một khi lớp hậu duệ tự ý thức và tự chọn lựa.

*Trọn cuộc đời giữ tâm hồn thơ và mộng: Anh Còn Yêu Em

Khởi đi từ những năm xa xưa mới đến Hoa Kỳ và định cư tại một thành phố nhỏ của Tiểu Bang Washington trước khi về Cali chủ trương một trung tâm ca nhạc đã lớn mạnh và rất danh tiếng hiện nay, nhạc sĩ Anh Bằng tâm sự rằng: “trong tủ thơ của mình có trân trọng hàng ngàn tập thơ và các sáng tác của nhiều tác giả thương mến gửi tặng, Anh Bằng trân trọng từng bài thơ, đọc thường xuyên rất kỹ, không bỏ sót..”

Theo lời ông, “tác giả rất quý mến những ca sĩ hát nhạc Anh Bằng truóc đến nay”. Mới đây nhất qua ca khúc Anh Còn Yêu Em, như Nguyên Khang, Y Phương, Thiên Kim, cũng như xa xưa có Trang Mỹ Dung với Hai Mùa Mưa, Phương Dung, Thanh Thúy, Thanh Tuyền.. đầu thập niên 1980 ở hải ngoại có Lệ Thu, Ngọc Lan, Hải Lý. Họ hát Hạnh Phúc Lang Thang rồi đến Như Quỳnh mà theo lời ông những tiếng hát hát thành công đoạt trong list nhạc top hit.. Tất cả, cho dù bao giờ, lúc nào ông cũng đều dành cho những tiếng hát nhạc của mình: sự cảm mến… Dù mười năm qua, ông không còn thưởng thức qua thính giác được tiếng hát nào qua thanh âm nữa. Có chăng ông chỉ còn ân cần xem lại hình ảnh, qua DVD và ghi nhận từ những lời khen ngợi, cảm kích của thính giả.

Nhạc sĩ Anh Bằng cho rằng dù nhà thơ Phan Thành Tài (thơ phổ cho ca khúc Anh Còn Yêu Em) chưa nổi tiếng “nhưng thơ có hồn, thơ gây cảm xúc cho người viết nhạc”… và ‘cả hai ca khúc “Anh Còn Nợ Em” và ”Anh Còn Yêu Em” đều hay’. Trong ca khúc này, ta thấy mênh mông cả khung trời Thanh Hóa, rồi đến Quy Nhơn và quãng đời lưu vong tại Garden Grove, Quận Cam, tất cả đều phảng phất nét lãng mạn chôn dấu.

Điểm đặc biệt là có một vài ca khúc tác giả rất bằng lòng thì lại không được đón nhận mạnh, còn một số ca khúc tác giả không thích lắm thì lại được đón nhận nồng nhiệt (tuy vậy Anh Bằng cũng nói rằng: trường hợp này ít khi xảy ra…) – Có những tập thơ hay (đối với chủ quan của Anh Bằng), ông nói: “mình đọc đi đọc lại nhiều lần- thấy sung sướng” và “ngược lại cũng có những bài thơ của các tác giả danh tiếng nhưng lại vẫn chưa tìm ra được nét ưng ý để phổ thành ca khúc… Tác giả BH nhận định: “Tâm hồn nhạc sĩ Anh Bằng qua thính giả khắp nơi ghi nhận, càng những năm về sau Anh Bằng càng thơ mộng, trẻ trung, yêu thiết tha cuộc đời này, âm nhạc đã mang tâm tình vang xa..”.

* Những ca khúc nổi như cồn rất hiện tượng, thời thập niên 1960

Nếu Vắng Anh là ca khúc đầu tiên của Anh Bằng được in trên bản nhạc giấy với số lượng bán rất cao (đó là nét đặc thù của nền âm nhạc miền Nam- trước 1975) và cùng thời trên dĩa Sóng Nhạc-Asia qua tiếng hát Lệ Thanh, tiếng hát sắc sảo rất hay, nhưng ít chịu xuất hiện trên sân khấu hoặc chịu in hình ca sĩ trên bài hát ngày ấy. Ca khúc thứ nhì lại là Thanh Thúy được mời trình bày mang tên: Giấc Ngủ Cô Đơn, và kế đến là tác phẩm thứ ba mang tên: Đôi Bóng với Phương Dung rồi sau đó mới đến Lẻ Bóng một lần nữa lại được Thanh Thúy trình bày. Nhưng trước khi cho ra mắt 4 tác phẩm được các ca sĩ thượng thặng thời đó trình bày, Anh Bằng còn có Tiếc Thầm, (một ca khúc cổ võ cho cao trào đi quân dịch, bảo vệ đất nước tự do cho người dân) ít người nghĩ đến tên tác giả, đã do ban AVT trình bày lần đầu được phát nhiều lần trên màn ảnh truyền hình mới ra đời được chiếu lớn trên toàn quốc cho đợt thử nghiệm truyền hình đen trắng, chưa hết lại còn những bài hài hước Anh Bằng dựa trên ý thơ Hồ Xuân Hương, khiến ai cũng nhớ, cũng cười thoải mái với Em Tập Vespa, hoặc Đánh Cờ… không phải của Lữ Liên. Riêng bài Huynh Đệ Chi Binh thì lại là một đề tài phẩm bình về sự chia rẽ trong quân đội rất ý nghĩa khi kêu gọi đoàn kết giữa hàng tướng lãnh để chống Cộng, bảo vệ người dân..

Trong sáng tác mạnh mẽ bội phần với thời trước 1965, Anh Bằng liên tiếp cho ra đời: Nửa Đêm Biên Giới, tiếng hát Thanh Thúy, Tiếng Ca U Hoài (một trong những ca khúc tác giả rất thích, rất hài lòng và biết được rằng không thành công như những ca khúc khác), sau đó là những ca khúc mở lối cho cao trào phát thanh thương mại như: Hai Mùa Mưa, Căn Nhà Ngoại Ô, Gõ Cửa.. cùng với cả trăm sáng tác khác, với nhiều khúc hát slogan, khúc hát chiến dịch tuyên truyền mà Anh Bằng viết không cần lưu lại tên tác giả dù với ông, không một việc làm hoặc sáng tác nào mà ông coi nhẹ, không đặt trọn vẹn trái tim với tinh thần phục vụ.

Tên của từng bài hát và tiết tấu cùng chọn ca sĩ thời bấy giờ nằm trong tay nhạc sĩ, sự tìm chọn ca sĩ, tập luyện và cùng nhau đi thu băng chung cả là một công trình kéo dài cả tuần lễ, và nhạc sĩ vừa có quyền vừa thể hiện vai trò rất quan trọng trong tiến trình trình diễn… Cho đến khi “Chuyện Tình Lan và Điệp 1, 2, 3…” ra đời đã đánh dấu mức cực thịnh của những fans ái mộ và nhu cầu nghe, thưởng thức loại nhạc tình cảm gần gụi của Anh Bằng.

Sau đó sáng tác “Chuyện Tình Trương Chi” tuy số thu có thua Chuyện Tình Lan Và Điệp nhưng thính giả đại đa số vẫn khát khao thưởng thức và mua các bản nhạc giấy xuất bản với số lượng đáng kể, và số thu tài chánh đã vượt trội một ca khúc có tựa đề tương tự , đó là “Khối Tình Trương Chi” của nhạc sĩ thành danh Phạm Duy: Dù ca khúc ký tên Phạm Duy này là loại nhạc noble, được đánh giá sang cả, nhưng ít ai bỏ tiền ra mua nhạc giấy bài này, hoặc yêu cầu nghe qua các chương trình Phát Thanh Thương Mại thường nhật so với Anh Bằng.

Trong khi các chương trình “phát thanh thương mại”, quyến rũ đông đảo thính giả, từ học sinh, thanh niên, bạn trẻ, quân nhân tiền tuyến, em gái hậu phương, cả giới lao động thợ thuyền, cả những bạn gái trẻ nhọc nhằn gánh nước cũng dành dụm đồng tiền khó kiếm, mua nhạc giấy hoặc dĩa nhạc “Chuyện Tình Lan Và Điệp”. Những tháng năm đó có phong trào “say mê” với các chương trình Phát Thanh Thương Mại, tư nhân là chủ, tràn ngập những quảng cáo như ta vẫn thấy ngày nay rất nhiều ở Hoa Kỳ.

Một trong những sáng tác mới và rất sung mãn mới được thu CD và DVD gần đây của Anh Bằng là “Khóc Mẹ Đêm Mưa” qua tiếng hát Đặng Thế Luân, Nhạc sĩ Anh Bằng tâm sự rằng: ”mẹ mất sớm, người anh thứ hai (bị Việt Minh ám sát từ sớm) khiến Anh Bằng lúc nào cũng chơ vơ nhớ và cần mẹ, nhưng đến khi người anh từ trần ngày 29 tháng 4-2006, khiến nhạc sĩ Anh Bằng cảm nhận như một mất mát thật lớn lao đã xảy ra cho mình”. Nước mắt và xúc động rất chân thật nhiều tháng đã khiến cho ca khúc sống thật và thương cảm, gieo cảm xúc cho hầu hết người nghe qua ca khúc..

* Phong phú sáng tạo, nhanh chóng chinh phục trái tim của khán thính giả.

Tính tình kín đáo, thiện cảm của Anh Bằng khiến những “ông lớn” trong ngành âm nhạc tuyên truyền cũng chẳng bao giờ biết Anh Bằng chính là tác giả những sáng tác như ca khúc nhạc hiệu cổ võ cho chiến dịch động viên mang tên “Tiếc Thầm”. Ông còn là tác giả ơột số vở kịch được các đoàn Tâm Lý Chiến quân đội diễn nhiều nơi. Một tâm hồn nghệ sĩ tiềm ẩn biết bao thơ mộng mà bây giờ sau hơn 50 năm nhìn lại sự nghiệp, nhiều thính giả mới thầm thán phục thêm khi nghe những ca khúc lãng mạn chân tình như: Khúc Thụy Du, Anh Còn Yêu Em, Chia Tay Hư Ảo, Khóc Mẹ Đêm Mưa.. Tiếc Thương trong DVD Lá Thư Chiến Trường muộn màng ra đời. Và đến nay, gần như không DVD Asia nào không có đóng góp tươi mới. Sáng tác kịp thời để mang tên Anh Bằng mà không được chờ đón.

Trở lại với các sáng tác như bài “Hoa Học Trò”, là của Anh Bằng phổ thơ Nhất Tuấn chứ không phải Trần Thiện Thanh, “Chuyện Giàn Thiên Lý ” cảm nhận từ ý bài thơ Nhà Tôi của Yên Thao, hoặc Trúc Đào, ý thơ của Nguyễn Tất Nhiên. Theo nhà văn Phạm Quốc Bảo: “chúng ta thấy các bài thơ dài thượt, khó bắt được âm điệu để diễn tả những ý thơ, thế mà qua tay nhạc sĩ Anh Bằng, ông tỏ ra rất dễ dàng nắm bắt được ý chính những rung cảm mạnh mẽ nhất, thô sơ nhưng gần gũi nhất, để người nghe sẽ nhớ ngay, hiểu ngay và có thể hát lại dễ dàng, họ sẽ yêu thích và ghiền… Và công lao chính là nhờ âm điệu của dòng nhạc tài hoa, dù chỉ cảm nhận một vài ý thơ, nhưng không bao giờ Anh Bằng quên trang trọng đề tên nhà thơ qua tác phẩm ấn hành.

Kiếm được một bài nhạc sẽ ăn khách rất khó, kiếm được một bài thơ hay trở thành ca khúc lại càng khó hơn nữa, nhưng Anh Bằng đã “đeo” cho bài thơ một đôi hia bảy dặm, nó đã bay bổng xa tới tận đâu đâu …. “Chỉ cần 32 trường canh”, ông đủ diễn tả cho thính giả biết tựa đề, nét lãng mạn và nội dung của bài thơ bài hát… và như ánh sét, nhanh chóng đi ngay vào tận mỗi trái tim. Ông biết trước loại nhạc nào quần chúng thích, kể cả vào những năm sau những đảo chính, chỉnh lý, biến động ở Miền Nam, người dân cần những tình cảm mới, nguồn xúc động tươi tắn, gần gũi, bình dị và trong thời điểm này có những sáng tác cho chiến dịch, như “Nửa Đêm Về Sáng”, “Nửa Đêm Biên Giới” như các khẩu hiệu cổ động, nó phát xuất từ Anh Bằng: Chỉ trong thoáng chốc ngồi ở bàn viết và liền được tung lên phát thanh, vang dội toàn quốc ngay sau đó…

* Triệu phú (thời VNCH) hãng dĩa Sóng Nhạc-Asia

Nhạc sĩ Anh Bằng quá dầy kinh nghiệm phát hành, phân phối của trung tâm “Hãng Dĩa Sóng Nhạc”, từ những năm điều hành hệ thống âm nhạc ở các đài Phát Thanh Quốc Gia, cho tới các chương trình Phát Thanh Thương Mại. Cái nhìn viễn kiến của ông, theo lời anh Trần Văn Khải là “nhìn ra biển rộng mênh mông chân trời bao la, và tiến mạnh, chứ không chỉ là cái nhìn nhỏ hẹp trong ao hồ nhỏ bé. Cũng theo Anh Bằng: Âm nhạc và văn nghệ miền Bắc (1954-1975) chỉ có kho súng đạn, chiến đấu trong khi miền Nam là một kho tàng nhạc giá trị tình tự và nhân bản.”

Dù trong một hai năm đầu lớp dạy nhạc Lê Minh Bằng khu nhà thờ Tân Định Sài Gòn, mới chỉ vừa đào tạo đã có được thêm Trang Mỹ Dung và Giáng Thu… cho các chương trình phát thanh kịp một năm trước khi miền Nam thất thủ vào tháng Tư 1975. Đó là những năm hợp tác tuyệt vời của bộ ba làm chương trình phát thanh: Lê Dinh đến Canada (sinh năm 1934- là viên chức trọng yếu phụ trách Tân Nhạc của Đài Phát Thanh Sài Gòn), Nhạc Sĩ Minh Kỳ (1930-1975), đi tù và chết. Bộ ba người có cả Anh Bằng, trong cái tên ghép của ba người: Lê-Minh-Bằng.

Ra hải ngoại, Anh Bằng khởi nghiệp ban đầu với người cháu trai là nhà tổ chức ca nhạc Trần Thăng, đầu tiên là chung sức lập ra “Trung Tâm Dạ Lan” khoảng năm 1983-1984.

Ông vốn sẵn có tài, cả hai có sáng tạo, và người cháu có tài chánh, nhiệt huyết và sáng kiến; nên những năm đầu tiên rất thành công đáng kể. Trong dịp này, Thy Vân cũng có hình mặc áo dài xanh nước biển in trên bìa băng cassett nhạc khi hát một vài ca khúc, nhưng sau đó Thy Vân biến dần vào lãnh vực tổ chức. Cô có ý muốn phát triển lớn rộng hơn, và Asia ra đời từ đó. Khi rời Dạ Lan cũng là lúc Thy Vân không còn chú tâm hát để thu cátsét tiếng hát của mình nữa và bắt đầu điều hành, phát triển Asia dưới sự hướng dẫn và công sức của thân phụ. Nhờ vậy, Asia đã lên rất cao.

So sánh với vài nhạc sĩ có tiếng, có tài và thế lực giao tế rộng, sáng tác mạnh như Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Phạm Duy nổi bật trong giới văn nghệ nhờ báo giới luôn nhắc nhở khen ngợi trước 1975, cũng phải chịu nhựơng bộ, bó tay trong khung cảnh xa lạ xứ người … Từ đó mới thấy sự chọn lựa đúng lúc và có kế hoạch cũng như tài năng phong phú, nhạc sĩ Anh Bằng lớn lao vượt trội là như thế!

Soạn nhạc để có người yêu mến, và có số thu tài chánh khó ai có thể ngờ tới… Không đáp ứng được quần chúng qua một vài ca khúc thì bị loại bỏ. Có lẽ như thế mà những ca khúc gần đây mới là cảm nhận nét lãng mạn, tài hoa, như mỗi loạt nhạc ra đời của Asia, và Anh Bằng nói riêng là thêm một đợt đón nhận mới, lạ kỳ!

Nhạc sĩ Anh Bằng thập niên qua đã có góp phần viết script, chọn nhạc, soạn nhạc, cùng đóng góp ý kiến trong việc chọn ca sĩ và ca khúc.. góp sức đưa Asia lên mức thành công rất cao. Tâm niệm của Anh Bằng là “đáp ứng quần chúng, muốn người nghe thoả mãn tâm sự cuả nghệ sĩ sáng tác; như vậy có nghĩa là tác phẩm đã thành công…” Cũng như khi lập ra lớp huấn luyện nhạc trước 1975, ông cũng có một lý do đặc biệt: “vừa đào tạo, vừa tìm kiếm ra tài năng mới”.

* Đối thủ trong âm nhạc của Anh Bằng? Có hay không?

Đã từng sống trong Lý Bá Sơ, từng đêm nghe tiếng cai tù đánh thức những người bạn đồng tù khác, thức dậy, trói ké, mang ra sân bắn hoặc mang đi điều tra hành hạ có lẽ là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong đầu của nhạc sĩ… thiếu ăn, thiếu áo quần, thiếu một mảnh chăn đơn để che đắp cái rét giá tù đày… nhưng tác giả Anh Bằng luôn nở một nụ cười, không chua cay oán thù, dù “không bao giờ đội trời chung với chủ nghĩa và chính sách từ những năm trước 1954, và chủ nghĩa CS kéo dài những năm sau đó…” Đối với người nhạc sĩ đầy tấm lòng nhân ái này, ông luôn có một nụ cười tươi tắn cho cuộc sống, hầu như không bao giờ ganh ghét.

Không bận lòng với ai, chỉ phấn đấu say mê làm việc, thúc đẩy tự chính mình, nhưng luôn tươi tỉnh với một câu nói như giờ thúc quân (kinh nghiệm từ gian khổ). Ông thường thúc đẩy: “Khi làm việc thì phải tiến lên, phải “sắt máu” , ý của ông chỉ muốn diễn tả –lòng quyết tâm. Ông không tranh giành với đồng nghiệp hoặc với một ai, vì bản tính chân chất hiền lành… nhưng có thể chỉ ngọai trừ với lập trường và vì lằn ranh trong cách sống?

Theo ông, qua những lần thổ lộ ở tại xứ người, thì: “trong khi chúng ta cố mang lại những lạc quan, kêu gọi chiến đấu bảo vệ đồng bào, bảo vệ sự sống còn và nhân bản tại miền Nam thì lại có những người cố tình phản chiến, kêu gọi hòa bình bằng mọi giá như thể là họ luôn lên tiếng nói: chúng ta hãy đầu hàng đi! ”.

Chế độ VNCH lúc ấy chẳng phải là không chặt chẽ trong chủ trương kiểm duyệt ca nhạc chiến đấu: Các ca khúc trước khi được in, được phát trên các đài phát thanh, hoặc trước khi được thu dĩa, đều trải qua những con mắt kiểm duyệt gắt gao. Vẫn theo ông “thậm chí có những sáng tác khi cho phát thanh, thu dĩa tạm gọi là”đầu Ngô mình Sở”, vì các con mắt kiểm duyệt, các sếp kiểm duyệt, mỗi viên chức, mỗi nhạc sĩ, thêm câu này, thay chữ kia, bớt, cắt chữ nọ, để thích hợp với chính sách… nâng cao tinh thần cùng chiến đấu”. Thế nhưng nói riêng về mặt tuyên truyền thì chúng ta làm sao mà cản nổi khi cứ 3 ca khúc phản chiến, kêu gọi buông súng thì chúng ta mới có kịp một sáng tác nỗ lực chiến đấu như của Anh Bằng, Duy Khánh, Trần Thiện Thanh, (một sáng tác chống tàn ác, bảo vệ tự do thì có ngay ba ca khúc phản chiến kêu gọi buông súng hoà bình mọi giá!) khiến cán cân lực lượng tuyên truyền chúng ta bị xâm lấn bởi phe phản chiến, làm lợi cho đối phương…

Chẳng hạn, khi Trịnh Công Sơn mô tả cảnh “các bà mẹ chết vì chiến tranh vì bom đạn” để phản chiến, thì nhạc sĩ Anh Bằng vội vã soạn ngay ra đời ca khúc có những hình ảnh tương tự, nhưng dưới con mắt của một chiến sĩ đấu tranh có chính nghĩa cho tự do: “một bà mẹ ôm con chết trong tay mình nhưng cảm thông sự hy sinh chiến đấu của đất nước” là vì giặc phá hoại, và người dân Miền Nam, yêu chuộng tự do, nỗ lực “tự vệ”…, hoặc nói lên nỗi khổ chiến tranh qua ca khúc “Nó”, hoặc Đêm Nguyện Cầu… Điều trái nghịch là một số những kẻ thụ hưởng trong miền Nam tự do thì thích âm nhạc phản chiến, trái lại rất nhiều cán binh cộng sản và dân chúng miền Bắc lại ưa chuộng tìm nghe, chép chuyền tay những lời nhạc về “người mẹ ôm con chết vì bom đạn của kẻ chủ trương chiến tranh” của Anh Bằng, hoặc ca khúc “Nó”, “Đêm Nguyện Cầu”, “Nỗi Lòng Người Đi” để soi chiếu lại cuộc đời thời chiến tranh của họ quá nhiều bất hạnh: Các cán binh miền Bắc vẫn lén lút thích thú say mê ca khúc “Tôi xa Hà Nội năm lên 16 khi vừa biết yêu”… như những món hàng “độc”, được ưa chuộng và đánh giá cao… Phải chăng trước những trách nhiệm tự chọn lựa qua cuộc sống dân sự, trong vai trò Tâm Lý Chiến, tác giả Anh Bằng cũng phải đối kháng với Trịnh Công Sơn, mỗi người một lý tưởng. Theo lời anh Trần Minh: “Nhạc Sĩ Anh Bằng muốn dùng nhạc của mình góp phần làm suy thoái tinh thần sát máu của các chiến binh sinh Bắc tử Nam, với ước mong miền Nam được yên bình, giặc từ Bắc không thể xâm lấn vô Nam… Những kẻ phản chiến, hình như, đã góp phần làm mất miền Nam, là nỗi đau đớn cho những nguòi như Anh Bằng suốt trong quá trình những sáng tác phản chiến đó ra rả tại nhiều nơi trong và ngoài thành phố.”

Nỗi đau đớn này dằn vặt tác giả Anh Bằng, khiến ông giới hạn nhạc tình của mình để hướng vào góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp qua những ca khúc ca ngợi cuộc chiến đấu cho tự do dân chủ.

Có lẽ cho đến hơn ba thập niên, sau miền Nam thất thủ, tâm sự của nhạc sĩ Anh Bằng qua thổ lộ vẫn chưa nguôi ngoai… Lý do chỉ giản dị có thế … Theo lời đạo diễn Trần Thăng, Mây Productions-giám đốc /sáng lập Hollywood Night/ Dạ Lan nói: “những người như ông, không ngại chống lại một chủ nghĩa sai lầm, với tiếng nói và tấm lòng chân thật”

Ông Anh Bằng vẫn có thổ lộ đôi lần: “Tương lai, một đất nước Việt Nam, rồi sẽ không còn CS”, hình như ông luôn lạc quan như thế: “… nhưng không hẳn chúng ta chỉ ngồi chờ đợi sự sụp đổ, ta phải góp phần tích cực thì ngày ấy sẽ đến”…

Một đời tận tụy, với trên 500 sáng tác, trong đó rung cảm của ông trải ra với độ 200 bài phổ thơ. Nhưng trên tất cả vẫn là một tấm lòng trọn vẹn với đất nước của một nghệ sĩ có lý tưởng, dù rất thành công nhưng xem ra ông vẫn thấy không được như mơ ước: Quân đội đã là lò luyện thép nhưng cũng là tháp ngà cho một số người khác kiêu binh. Anh Bằng đã hưởng những phúc lợi từ các lò luyện thép và có những người cũng đã “đứng dậy được” sau những “cú đấm Thôi Sơn” của vận nước mà không thiếu gì những người đã cũng như tiếp tục gục ngã, mà có mấy ai vững niềm tin “sau cơn mưa trời đã lại sáng’. .. Riêng Anh Bằng, như “người tù vượt ngục Papillon”, đã “đứng dậy được”..

cũng theo lời ông Trần Khải, người cháu (năm lên 8) từng đi đón ông Anh Bằng ra tù… về đến đường làng Điền Hộ …

Và bao nhiêu năm đã trôi qua, nước chảy qua cầu, tác giả Anh Bằng với trái tim nhân ái, hiền lành từ thời tu học ở Ba Làng (cùng chất chứa đau thương ở Phương Ý-Lý Bá Sơ sau đó), tấm lòng với âm nhạc luôn tươi tắn, nhạc trữ tình Anh Bằng cuối đời vẫn thêm mới mẻ sang cả, ở một mức thưởng ngoạn cao vẫn đi vào từng trái tim, và ở lại lâu dài (so với sự đào thải nói chung….. nhanh đến độ tàn nhẫn hiện nay của ca khúc sáng tác- nhất là tình trạng nhạc trong nước), qua một số sáng tác mang của Anh Bằng mãnh liệt và tồn tại lâu bền, vừa lòng mọi giới mộ điệu ở trình độ thưởng ngoạn khác nhau.

* Người biến những cô Tấm thành siêu sao Diva nhạc Việt

Ngày xưa ông đã sáng tác có “Chuyện Tình Lan và Điệp”, bây giờ qua Hoa Kỳ ông lại tiếp tục sáng tác có Chuyện Tình Hoa Sim, Chuyện Hoa Trắng, Chuyện Giàn Hoa Thiên Lý: Đề tài cũ nhưng vẫn được đón nhận và hay vượt trội, ngoài ra còn có ca khúc, ý thơ của Nguyễn Tất Nhiên: Trúc Đào…
Tuy vậy những năm đầu khi chưa thành Trung Tâm Ca nhạc tại Hoa Kỳ, ông đã có những ca khúc sáng tác như: Huế Xưa, Cõi Buồn được đánh giá là cũngthu hút, nhưng không được hưởng ứng nồng nhiệt.

Sang đây, “Chuyện Tình Hoa Sim” làm kỷ niệm vào nghề của Như Quỳnh, khi cô mới tới Hoa Kỳ. Ngày ấy, Như Quỳnh được nhạc sĩ Trúc Giang, thân sinh nhạc sĩ trẻ Trúc Hồ (đang nối nghiệp tài năng nhạc Anh Bằng?) giới thiệu tại nhà thờ Tam Biên quận Cam-Cali, và cùng với dòng nhạc lãng mạn tình tứ, Như Quỳnh là mặt nổi của dòng nhạc Anh Bằng được đại chúng yêu mến. Những tài danh 10 năm qua, 20 năm qua, hoặc 40 năm về trước… và mới nay thôi cũng chỉ là một sự nối tiếp: Anh Bằng đã từng “khám phá”, từng giúp gò luyến láy những năm xa xưa cho Phương Dung, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Trang Mỹ Dung. Sự nổi tiếng của những tên tuổi này trong làng âm nhạc, từ trong nước đến hải ngoại, nói lên được rằng, cây đũa thần đủ sức “biến cô Tấm thành công nương” được hay không?

Nơi đây, với nhạc sĩ Anh Bằng trong vài chục năm qua, câu trả lời là với “tên tuổi thành danh thường vẫn là một initial cho một bài mới sáng tác”. Khác với nhiều người nói chung- chưa kịp được khen ngợi đã bị loại bỏ – quên lãng, chính vì đó là những cái hay nổi rộ, ngay từ bước đầu, giống như chương trình thương mại Anh Bằng góp công sức ngày xưa thật khó khăn, nhưng thành công ngay. Định luật chung: Phải tài hoa mới được trao phó cho, để tạo được những bước nổi lên đình đám… Một ca khúc mới, một bài thơ mới, một tiếng hát mới, có nổi được trên sân khấu (hoặc có cơ hội bước được lên sân khấu) và được vang dội khắp nơi, cũng đã là chuyện khó.

Tác giả Anh Bằng đôi lần thổ lộ rằng: “tôi không muốn tác phẩm bị cô đơn, lẻ loi trong âm nhạc, không muốn bài hát mình nghĩ là hay, mà chỉ dành riêng cho vài lớp người hoặc để nhằm chỉ đáp ứng giới người ưa thích xa vời và hiểu được. Khi đã sáng tác là “phải đụng tới một khối lớn đa số quần chúng yêu thích” Theo ông như lời tâm sự với nhà thơ Du Tử Lê và Nguyên Sa, “sẵn lòng xóa bỏ một sáng tác, khi nghĩ rằng sự ra đời ca khúc nào đó sẽ không chiếm được đa số quần chúng đón nhận, hiện còn nhiều sáng tác trong những năm qua, gần cuối đời, mươi bài Thánh Ca (có một thời từng giao cho Khánh Ly hát) nhưng các bài ca ngợi Thiên Chúa đã thất lạc và nay ông lại tìm về những giây phút gò lưng tìm lại những trầm bổng thanh thoát cũ và mới và những ca khúc ca ngợi tình yêu còn đang cất trong safe box”, cùng với những ca khúc còn dang dở như “Đợi Chờ”, “Vườn Thánh Ấu Thơ” cuốn hút ông vào những tình cảm khó nhạt phai, thần thánh hoá.

Chính vì vậy mà ở kết hợp “Ý thơ cùng với mélody” phải vang vọng trong tâm tưởng, để thành một tác phẩm đưọc ưa chuộng. Tác giả phải ngồi xuống bàn vào buổi chiều, có khi cạnh người cháu thân thiết Trần Khải (hoặc đạo diễn Trần Thăng sau này là producer của Hollywood Night- Dạ Lan) cận kề tán thưởng: Những ngón đàn guitar dạo mélody của nhạc sĩ Anh Bằng khi soạn một ca khúc, ngày xưa ấy vẫn thường được tâm sự chia sẻ, và chỉ trao đổi với vài người thân khi sáng tác vừa kết thúc…

Nhưng ngược lại, hầu như ông không hề khuyến khích các người con ông theo ngành sáng tác âm nhạc? Không một lời giải thích của tác giả vì sao?. Có thể các người con không có một quá trình dài học nhạc như ông tại Ba Làng, không có hoàn cảnh thúc đẩy cần thiết, không trải qua những kinh nghiệm lẫn thương đau?

Và sáng tác tiếp nối sáng tác, trở thành tác phẩm được đón nhận, cung cách giản dị đắm say trong vài giờ viết nốt với chữ viết luôn trân trọng và đẹp (và ngày nay thì nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác-gõ nốt nhạc rành rọt trên máy điện toán). Những bản nhạc ấy chẳng mấy lâu sau sẽ đồng loạt phổ biến xa rộng, và “một sớm một chiều” được hưởng ứng, ngưỡng mộ…

Còn ngày nay, cung cách sáng tác không khác, ông dựa trên ý tưởng lời thơ, tươi vui bên phím điện toán… có khác chăng là Anh Bằng đi ngược lại với thời gian, sống lại với đồi sim tím mênh mang quê nhà thời còn đọc thơ Hữu Loan, tím cả chiều hoang biền biệt càng ngày nhạc càng thêm trẻ và căng đầy sức sống… và càng cuối đời nhạc của ông trở thành suy tư sang cả mang tính suy tư, triết lý, “thính phòng”, vượt qua một thời tên tuổi vang lừng trong giới nhạc trữ tình đại chúng…

Nhạc sĩ Anh Bằng thường tâm sự : từ kinh nghiệm học ở Ba Làng, ông được hun đúc sức sống và tận tụy làm việc mãnh liệt và cương quyết, hàng ngày còn trau dồi- học Anh văn nữa chứ! .

Còn bây giờ là lúc nhìn thấy các hậu duệ đã vững vàng trên đường sự nghiệp, thì ông bắt đầu thanh thản và an nhiên… Những năm lao động khổ sai, người tù Lý Bá Sơ, đói khổ là hành trang để ông thêm trân trọng tự do, nhân bản mà mình được hưởng ở Miền Nam, và ở cả bên ngoài nước Việt Nam ngày nay.

Vẫn đi tiếp một quãng đời, khởi đi từ ca khúc “Tiếng Hò Sông Chu” và bản án tù Lý Bá Sơ, cướp mất thanh xuân, chàng trai Anh Bằng lúc nào cũng như mới lớn- tuổi 18, tươi tắn nhựa sống, dù nay ông đã bước qua khỏi sinh nhật thứ 81 trên vài năm rồi.

Phạm Kim

Nhà hàng người Việt phát triển mạnh vùng phụ cận Seattle
Friday, March 29th, 2013

Lemongrass Restaurant vừa khai trương chi nhánh thứ Tư tại Southcenter -Tukwila (gần khu nhà thờ Công Giáo Việt Nam đang phát triển. Các ngành nghề, đặc biệt là lãnh vực nhà hàng, Phở… Không chỉ có khu vực MLK và Jackson St., (nơi có Lemongrass trong khu Little SaiGon -Seattle) khu phố người Việt mới có những nhà hàng với món ăn gốc Việt được báo chí và Yelp khen ngợi.

Sau Ba-Bar Food Street, Monsoon Restaurant, Long Provincial… Nay lại có thêm là nhà hàng Lemongrass (với 4 chi nhánh) vừa khai trương tại 17308 Southcenter Parkway, Tukwila, WA 98188, Tel: (206) 575-7677. Tại Lemongrass với nhiều món ăn được cả khách Việt và Mỹ đều ưa chuộng – với hương vị luôn đều tay, giữ khách cùng nhờ các món ngon đặc thù, giá phải chăng – lại còn có thêm những lời khen ngợi của báo chí và giới phê bình món ăn Yelp khen là nhà hàng món ăn Việt xuất sắc trong tuần qua./.

Từ 38 năm qua tại Seattle, doanh gia gốc Việt vẫn quy tụ và phát triển trong khu Jackson, Rainier trong lúc khu thương mại M.L. King Business Assoc. mỗi ngày mỗi bị hòa trộn bởi đa sắc dân, đa văn hóa. 10 năm qua khi có xe Tốc Hành Sound Transit, đã gây ảnh hưởng nặng nề cho doanh gia và cư dân trong khu vực này.
Chính vì những khó khăn của chỗ đậu xe, sự hòa trộn của đa sắc dân mỗi ngày mỗi gia tăng mạnh, khiến giá thuê mướn tăng và cơ hội có những khu thương xá của riêng người Việt như giấc mơ khó thành. Chính vì vậy các chủ nhân và nhà đầu tư nhà hàng gốc Việt phải di chuyển hoặc mua những khu phố thương mại trong vùng thu hút thực khách Việt-Mỹ./.

Cuộc Đối Đầu GSP: Cần có nút chặn việc thương lượng
Saturday, March 23rd, 2013

* Tiến sĩ NGUYỄN ĐÌNH THẮNG

Trong thời gian gần đây, một số người bắt đầu quan tâm đến đòn bẩy mậu dịch để cải thiện nhân quyền. Hai đòn bẩy mậu dịch mà chúng ta có thể sử dụng hiện nay là: GSP và TPP.

Ngày 9 tháng 5, 2008 Việt Nam nộp đơn xin quy chế Hệ Thống Ưu Đãi Thuế Quan Phổ Quát (Generalized System of Preferences, hay gọi tắt là GSP). Nếu được quy chế này thì Việt Nam sẽ được giảm hay miễn thuế trên nhiều mặt hàng nhập cảng vào Hoa Kỳ. Điều này sẽ giúp Việt Nam phát triển mậu dịch và kinh tế.

Một tuần trước chuyến công du Hoa Kỳ của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 6 năm 2008, Hành Pháp Bush công bố bắt đầu cứu xét đơn xin GSP của Việt Nam.

Tuy nhiên hai bên gặp phải nhiều nút chặn. Đó là các điều kiện do Luật Mậu Dịch Hoa Kỳ năm 1974 áp đặt đối với quốc gia nào muốn hưởng GSP. Các điều kiện này gồm có:

(1) Thực thi kinh tế thị trường

(2) Tôn trọng tác quyền

(3) Tôn trọng quyền của người lao động

(4) Mậu dịch hai chiều công bằng

(5) Không cưỡng đoạt tài sản của công dân hay công ty Hoa Kỳ

Phòng Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ, trực thuộc văn phòng Tổng Thống, đã thực hiện nhiều buổi thương lượng với Việt Nam. Các điều kiện luật định kể trên từng bước được tháo gỡ. Chẳng hạn, Hoa Kỳ chấp nhận lập luận là Việt Nam có kinh tế thị trường mà chỉ đòi hỏi giảm bớt tỉ lệ của khu vực quốc doanh. Thậm chí quyền của công nhân lập nghiệp đoàn tự do và độc lập cũng vậy. Việt Nam lập luận rằng Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam tuy không độc lập nhưng có thành lập các ban cố vấn gồm những người độc lập. Hoa Kỳ chấp nhận lý lẽ ấy.

Những tháo gỡ này phần nào do sự vận động bền bỉ từ phía Việt Nam. Chẳng hạn, cứ mỗi lần có dịp tiếp xúc với giới chức cao cấp của Hoa Kỳ, đích thân Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng ra vận động cho GSP: chẳng hạn như ngày 22 tháng 7 năm 2010, khi gặp nữ Ngoại Trưởng Hillary Clinton (http://www.vietnamembassy-brunei.org/vnemb.vn/tin_hddn/ns100723185025?b_start:int=35), và ngày 20 tháng 1, 2012 khi họp với TNS John McCain (http://www.thanhniennews.com/index/pages/20120120-mccain-pledges-more-support-as-meeting-with-vn-pm.aspx).

Trước dấu hiệu Hành Pháp Hoa Kỳ tuần tự tháo gỡ hết mọi điều kiện từ 1 đến 4 để tiến đến ban cấp GSP cho Việt Nam, nữ Dân Biểu Zoe Lofgren (Dân Chủ, CA) ngày 27 tháng 4, 2012 đưa vào Hạ Viện dự luật Fostering Rights through Economic Engagement in Vietnam Act, viết tắt là FREE Vietnam Act (H.R. 5157), nhằm ngăn chặn GSP cho Việt Nam cho đến khi chính quyền Việt Nam cải thiện nhân quyền. Tuy nhiên dự luật này đã không được đưa ra biểu quyết và đã chết vào cuối khoá Quốc Hội nhiệm kỳ 112.

Giữa tháng 8, khi rõ ràng là H.R. 5157 không có cơ hội để được biểu quyết, BPSOS đưa ra chiến dịch “Người Mỹ Gốc Việt Đòi Tài Sản” để nhắm vào điều kiện cuối cùng, số 5, mà Hành Pháp Hoa Kỳ không cả nghĩ đến là vấn đề phải quan tâm để tháo gỡ.

Thực ra, vấn đề tài sản đã được BPSOS đưa ra từ cách đó gần hai năm để chặn việc xoá trắng Giáo Xứ Cồn Dầu: một số công dân Hoa Kỳ có tài sản ở Cồn Dầu. Điểm then chốt này cũng giúp phần ngăn chặn văn kiện thương lượng để cho Tổng Thống Obama ký… (lại một kỳ hạn là cuối năm 2012, cũng đã trôi qua)

Chiến dịch “Người Mỹ Gốc Việt Đòi Tài Sản” đã dùng điều kiện cuối cùng còn lại làm nút chặn tiến trình ban cấp GSP cho Việt Nam.

Để hiểu rõ hơn về thế cờ GSP, xin lưu ý những điểm sau:

- GSP được thông qua và gia hạn định kỳ bởi Quốc Hội như một công cụ tổng quát. Còn quốc gia nào được hưởng GSP thì do Tổng Thống toàn quyền ban cấp vào thời điểm do Tổng Thống ấn định mà không cần xin phép Quốc Hội. Chính bởi vậy DB Lofgren mới phải vội vã đưa ra H.R. 5157 vào cuối tháng 4 năm ngoái để cản chặn nguy cơ điều này sắp xảy ra. Chiến dịch đòi tài sản cùng mục tiêu, nhưng dùng luật đã có sẵn.

- Song song với GSP Hoa Kỳ đang thương lượng đa phương với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, về Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership, gọi tắt là TPP). Nếu được TPP thì Việt Nam cũng được miễn trừ thuế nhập cảng và do đó không cần GSP nữa. Khác với GSP, TPP là một thương ước phải được cả lưỡng viện Quốc Hội chuẩn duyệt thay vì Tổng Thống toàn quyền định đoạt.

- Trước đây Hành Pháp Obama dự định hoàn tất thương lượng TPP vào cuối năm 2012. Trước phản ứng mạnh của Quốc Hội, Hành Pháp tuyên bố kéo dài cuộc thương lượng vô hạn định. Tuy nhiên người trong cuộc biết rằng mốc điểm hoàn tất sẽ là cuối năm nay. Từ giờ đến cuối năm là giai đoạn mà các thành phần đặc quyền đặc lợi đang ráo riết vận động cả Hành Pháp lẫn Lập Pháp để cài đặt điều kiện về tác quyền, sự minh bạch, v.v. Chúng ta cần vận động để cài vào đó các điều kiện về nhân quyền.

Tóm tắt lại, Tổng Thống Hoa Kỳ có thể ban cấp GSP bất kỳ lúc nào. Do đó chúng ta cần gài nút chặn.

Còn TPP sẽ phải đi qua thể thức bỏ phiếu tại Quốc Hội. Chúng ta cần vận động Quốc Hội cài đặt các điều kiện về nhân quyền.

Plate of Nations kéo dài 2 tuần đến hết ngày 6 tháng 4
Friday, March 22nd, 2013

Rainier BBQ trên đường M L King rất đông thực khách cùng với Bún Bò Huế Hoàng Lan gần Othello Station, là một nhà hàng nhỏ nổi tiếng với món Bún Bò Huế nổi tiếng gần xa- với giá cả phải chăng nhất trong vùng – Năm nay dù Bún Bò Huế Hoàng Lan không tham gia Plate Of Nations nhưng vì thuộc khu vực M.L.King và trong khu vực có hội thương mại M.L.K Business Associate nên cũng thu hút một số khách ngoại quốc, nhờ vào các báo chí Hoa Kỳ, báo của cộng đồng các sắc dân cùng với phần giới thiệu của KOMO 4-TV với Xướng Ngôn Viên Mary Nam phỏng vấn và giới thiệu vài món ăn và các nhà hàng.

Chương trình “Plate of Nations” hàng năm thu hút đông đảo thực khách mọi sắc dân phần lớn là nhờ truyền hình và báo chí Mỹ và giá hạ. Nhờ vào quảng cáo khiến nhiều thực khách Mỹ đã đón xe tốc hành thăm viếng thưởng thức các món ăn với giá khuyến mãi. Một trong những Truyền Hình Địa Phương như KOMO-4 TV, Seattle Times, và báo chí thiểu số trong hội New America đều đăng tải.
(Xem tin KOMO-TV giới thiệu nhà hàng Rainier BBQ) trong NWVietnameseNews.com

Bạn trẻ tình nguyện-tham gia Bầu Cử NVQG
Friday, March 22nd, 2013

Quỳnh Phạm Len Trần có tham gia trong ủy ban kiểm phiếu tổ chức Bầu Cử “Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Seattle và vùng Lân Cận”, do Dược Sĩ Rosalie Nguyễn là Trưởng Ban Tổ Chức Bầu Cử và Kỹ Sư Trần Việt Hải là trưởng ban Giám Sát. Có khoảng 20 người phần lớn là giới trẻ đã trực tiếp tham gia vào lúc 6 giờ 30 chiều thứ bảy 16/3 tại phòng hội trung tâm khu phố Quốc Tế và “Hội Bạn Little Sàigòn” 409 đường Maynard Seattle. (Xem tin tường thuật Truyền Hình SBTN-TV và Truyền Hình Á Châu AAT-TV)

Tổ chức bầu cử mang tên Sno-King, Seattle đã có kết quả chính thức sau buổi kiểm phiếu
Friday, March 22nd, 2013

Các thùng phiếu trong số 5 thùng phiếu từ các địa điểm tập trung đem về được đếm trên bàn và được kiểm soát bởi trưởng Ban Giám Sát Trần Việt Hải (hội chuyên gia). Những người được mời chứng kiến và kiểm soát BS Andy Chiêm (nhà bảo trợ và tích cực sinh hoạt cộng đồng), hiện diện trong số 20 người tình nguyện trong Ban Kiểm Soát 5 thùng phiếu”, công khai ai cũng có thể quan sát và tham gia tại văn phòng Hội Bạn Little SàiGòn tại 409 Maynard -Seattle. BS Andy Chiêm sau khi chứng kiến tường tận, đã ghi nhận sự thắng cử của liên danh Ngô Mỹ Linh-Lý Anh Kiệt với tỷ lệ khoảng 98% (trên 500 phiếu tín nhiệm)

Tuy vậy, một số ý kiến trong cộng đồng người Việt Seattle nhận định rằng: “Cuộc Bầu cử chỉ là tổ chức của người ủng hộ tham gia bằng phiếu đóng góp (bầu cử), hoặc tán thành chủ trương bằng lá phiếu sự việc dùng những chữ như Thẻ cử tri, hoặc lễ nhậm chức (take an appoinment hoặc là Immaculate) là không chính đáng nên tránh. Tổ chức bầu cử chỉ là sinh hoạt “mời gọi tự nguyện mà thôi, không mang tính bó buộc luật định trên mỗi công dân, thống hợp tổ chức hoặc đạt được ưu thế hơn các hội đoàn, tổ chức có phép hoạt động tương tự”. Chính vì vậy nhiều người vẫn gọi đùa là công tác “ăn cơm nhà vác ngà voi

Washington: Sẽ khai giảng chương trình “Song Ngữ Hai Chiều” bằng tiếng Việt-Anh
Friday, March 22nd, 2013

Washington, tiểu bang có số người gốc Việt nhiều thứ ba tại Hoa Kỳ, sẽ bắt đầu dạy thử nghiệm tiếng Việt ở một trường tiểu học thuộc thành phố Burien ngoại ô Seattle vào tháng 9 năm nay và sau đó hàng năm sẽ mở thêm lớp mỗi năm.

Buổi họp tham khảo và duyệt xét sách giáo khoa bằng Việt ngữ được in tại Hoa Kỳ và Úc đã được tổ chức từ 9 giờ sáng đến 4 giờ chiều thứ Bảy 16-3-2013 tại trường White Center Heights Elementary Burien ngoại ô Seattle.

Đông đảo đại diện các trường Việt ngữ, báo chí, truyền hình SBTN-TV đã có mặt nghe phần trình bày của Tiến sĩ Anne Reece hiệu trưởng trường, thầy Quyên Di (đến từ Quận Cam- Cali), cô Nguyễn Phượng Chi, thầy Bernard Koontz giám đốc chương trình Language and Cultural Learning Program. Cũng có mặt tham gia trong buổi họp mặt là các nhà giáo chức từ Seattle University, University of Washington, Shoreline Public Schools Highline Public Schools và Seattle Public Schools.

Tính hiệu quả của chương trình“Song Ngữ Hai Chiều” được chứng minh qua nhiều số tài liệu của Sở Giáo Dục Texas, California cũng như công trình nghiên cứu toàn quốc, nên ngày một được thừa nhận nhiều hơn. Học sinh tham gia chương trình trên không những giỏi hơn về hai ngoại ngữ, mà điểm số các bộ môn khác cũng được tăng lên.

Chương trình mang tên Dual Language (Song Ngữ Hai Chiều) bằng Tiếng Việt và tiếng Anh tại Burien là tiểu bang thứ nhì sau Texas, nơi thành công tại trường tiểu học Stafford, ngoại ô thành phố Houston ở tiểu bang Texas. Điều đáng nói, Texas có số dân gốc Việt đông xếp thứ hai ở Hoa Kỳ, với tỉ lệ dân gốc Việt chưa bằng một nửa của Califorina.

Cô Tiêu Uyên Phương đến từ Houston, một thiện nguyện viên tích cực – giúp góp ý cho chương trình và đặc biệt là duyệt xét sách giáo khoa và chia sẻ kinh nghiệm.

Được biết, ở Houston bà Vũ Kim Yến người có công đầu tiên, nay không còn làm hiệu trưởng Stafford vì chuyển sang một khu Học Chánh khác. Một lần nữa, bà được đề nghị thiết lập chương trình tương tự, bằng tiếng Việt và tiếng Quan Thoại, cho học khu mới.
Nguồn tin Tiểu Bang Washington sẽ bắt đầu dạy thử nghiệm tiếng Việt vào tháng 9 năm nay như tin báo NVTB đã loan tải trước đây và tường thuật trên Truyền Hình SBTN-TV và chương trình Việt ngữ Đài Á Châu AAT-TV tại Seattle được nhiều đồng hương quan tâm tìm hiểu.

Califorina, tiểu bang có gần 600,000 người gốc Việt, thế mà thua Washington vẫn chưa có trường dùng chương trình “Song Ngữ hai chiều” để dạy tiếng Việt! Trong khi Tiểu Bang Washington đã đạt tới thành quả này, với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều trường Việt ngữ như: Hồng Bàng (Renton), Văn Lang (Seattle), Đắc Lộ (Seattle), Hồng Ân (Everett), Hùng Vương (Auburn), Hùng Vương (Olympia), Lạc Hồng (Mukilteo), Lê Bảo Tịnh (Tacoma)

Thật khó trả lời cho câu hỏi trên, vì chỉ có phụ huynh mới có quyền đề nghị học khu, và nếu đủ số đề nghị, thì học khu tại Cali sẽ bỏ phiếu có hay không áp dụng chương trình “Song Ngữ Hai Chiều” bằng tiếng Việt.

Ông Quốc Bảo ủy viên học khu Garden Grove Cali -Ông Quốc Bảo khi tiếp xúc với phóng viên đã dựa trên sự thành công của Texas và Washington bày tỏ cảm tưởng về chương trình “Song Ngữ Hai Chiều” bằng tiếng Việt: “Chỉ cần phụ huynh đề nghị, học khu Garden Grove sẽ thực hiện được.”

Ông Bảo tỏ ra tin tưởng vào chương trình “Song Ngữ Hai Chiều” bằng tiếng Việt, sau khi đã vận động thành công “Ấn Chương Song Ngữ” cho học khu Garden Grove vào năm 2012. Vì theo ông, “khả năng nói tiếng Việt không chỉ giúp cho tương lai các em, mà còn nối kết sự xa cách giữa các thế hệ người Mỹ gốc Việt”.

“Bản thân tôi lúc đi học cũng từng ao ước hiểu được tiếng Việt,” ông Bảo nói thêm, “khi biết được tiếng nói, nguồn gốc của mình, các em sẽ gần gũi và học hỏi được từ cha mẹ, và sẽ tự hào mình là người Việt Nam .”Hiện California có khoảng 50,000 học sinh tham gia chương trình “Song Ngữ Hai Chiều” (Dual Language Immersion), để được học ngoại ngữ ngay từ nhỏ, và học một cách hiệu quả.Tuy vậy, tiểu bang có đông người gốc Việt nhất Hoa Kỳ lại chưa hề thực hiện chương trình trên cho tiếng Việt.

Qua lời đề nghị của một số phụ huynh, hàng trăm học khu nay đã có chương trình “Song Ngữ Hai Chiều ” dành cho tiếng Quan Thoại, Đại Hàn, và nhiều ngôn ngữ khác mà chưa bắt đầu… tiếng Việt như Houston và đi chậm bước hơn Tiểu Bang Washington .

Trong chương trình trên, các em ghi danh vào học ngôn ngữ mình muốn. Nếu lấy tiếng Việt làm ví dụ, các em, sau khi ghi danh học chương trình sẽ tham gia thi xếp lớp khả năng tiếng Việt. Mỗi lớp học sẽ được sắp xếp để bao gồm học sinh đủ mọi trình độ ngôn ngữ Việt, Anh, có thể học chung với nhau. Khi trường dạy các bộ môn học bằng Anh ngữ, các em giỏi tiếng Việt sẽ học tiếng bản xứ từ những em còn lại.

Ngược lại, những em đó sẽ “dạy” lại tiếng Việt cho các bạn khi thầy cô chuyển sang dạy bằng Việt ngữ.

(Nguồn: T.A/NV. và
SBTN-TV Seattle)

Buổi chào mừng đại diện các trường Việt ngữ tại White Center Heights Elementary (ngoại ô Seattle đã diễn ra vào lúc 9 giờ sáng thứ Bảy 16-3 vừa qua. Góc trái là hiệu trưởng trường, thầy giáo Quyên Di, góc phải là cô Nguyễn Phượng Chi đang mở lời chào mừng. (Tin và hình www.NVnorthwest.com và xem tin SBTN-TV)

Hậu duệ thành công trong 20 năm định cư
Friday, March 15th, 2013

Văn Kim Khánh, sau hai thập niên định cư và nỗ lực hòa nhập vào nếp sống mới của người bản xứ, thế hệ con em đã thành đạt nhanh chóng qua học vấn và trường đời, xuất sắc trong nhiều lãnh vực.

Luật sư Văn Kim Khánh (góc phải) theo gia đình đến Hoa Kỳ định cư từ đầu thập niên 90. Sau gần 23 năm phấn đấu của toàn thể gia đình từ khi cô Văn Kim Khánh mới đến Seattle vừa học lớp mẫu giáo, nay đã trở thành một luật sư là chủù văn phòng luật tại 2 thành phố Renton và Tacoma trong tiểu bang Washington được nhiều đồng hương ủng hộ. Ảnh chụp buổi tiệc đánh dấu một năm hoạt động tại văn phòng Luật Sư Văn Kim Khánh tại địa chỉ: 321 Burnett Ave. S. # 203, Renton WA 98057. Tel. 425-793-4357.

Celebrate Asia 2013-Benaroya- Seattle thành công
Friday, February 1st, 2013

Buổi nhạc hội Celebrate Asia 2013 (lần thứ 5) vào chiều Chúa Nhật 27-1-2013 vừa qua tại Benaroya được sự ủng hộ mạnh mẽ của các cộng đồng gốc Á. Celebrate Asia năm thứ ba có phần tham gia của học viên lớp nhạc Liên Tâm, vào năm thứ tư với nhạc sĩ Cường Vũ (Bellevue) trình diễn. Các cộng đồng Ấn Độ, Đại Hàn, Nhật Bản và Đài Loan cũng bảo trợ tài chánh rất cao góp phần thành công cho các năm qua.
Ông Bà Yoshi Mineghishi là chủ tịch ban tổ chức ( Xem ảnh) Bà Mineghishi (trong ban tổ chức là cá nhân đóng góp bảo trợ tài chánh nhiều nhất) cùng Tiến Sĩ Julie Phạm Hoài Hương và nhạc sĩ vĩ cầm Ambi Subramaniam (Ấn Độ). Cộng Đồng Ấn Độ trong năm nay và các năm trước đều cho thấy sức mạnh của các thành viên thuộc cộng đồng, với rất nhiều chuyên gia về kỹ thuật truyền thông (IT) đến từ Ấn Độ hiện làm việc tại công ty Microsoft. Cộng Đồng người Việt cũng có tỷ lệ khá cao làm về IT tại Microsoft và Boeing. Rất nhiều quan khách , văn nghệ sĩ, doanh giavà các Luật Sư Scholbe, Luật Sư Herrmann, Luật Sư Văn Kim Khánh, các bác sĩ Phạm Văn Minh, Nha Sĩ Vũ Thanh Tùng, hoa hậu Lynda Phạm và Á Hậu TB Washington, hoa hậu phu nhân- ca sĩ Jeannie Trang có mặt chào đón quan khách và khán thính giả trong đêm nhạc hội. Một số nhân vật sinh hoạt cộng đồng, báo chí Việt Ngữ và Truyền hình SBTN, Cựu Tổng Trưởng Tư Pháp Rob McKenna có mặt trong hàng khán giả và phần tiếp tân. Danh cầm thủ khiếm thị Nobuyuki Tsujii là trung tâm của đêm nhạc. MC của đêm nhạc là xướng ngôn viên truyền hình Mimi Jung
(photos: www.donaldpham.com)

[gallery]
Thu Thảo-Seattle mới mẻ – tươi sáng nhạc Anh Bằng với giới trẻ …
Friday, February 1st, 2013

Khi người ca sĩ trẻ của thế hệ 9X cất lên tiếng hát “Chuyện Hoa Sim” (Anh Bằng) và Đừng Xa Nhau giới thưởng ngoạn nhìn thấy những thế hệ tiếp nối Ngọc Lan, Như Quỳnh, Băng Tâm luôn thu hút người nghe bằng dòng nhạc trữ tình trong kho tàng “nhạc vàng”

Trong khung cảnh của các sân khấu ca nhạc đang gia tăng của thành phố, một tiếng hát mới góp mặt, vẫn luôn được xem là một điểm sáng gây sự chú ý đáp ứng chờ đợi của giới thưởng ngoạn chờ mong. Đó là tiếng hát mới mẻ, tươi sáng, yêu đời của Thu Thảo.

Tiếp xúc với Thu Thảo là những ngạc nhiên liên tiếp cho người viết, từ khi gặp Thu Thảo xuất hiện trong một số ca khúc khi Spring Taste mới khai trương hồi cuối tháng 10 vừa qua, bước sang Tea Palace và Great America tại Tukwila.

Mới đây, Thu Thảo cho biết ban tổ chức Mừng Xuân của cộng đồng vào ngày 16-tháng 2-2013 tại nhà hàng Jumbo Seattle, Thu Thảo đã được mời tham gia trong chương trình ca nhạc chứa đựng tính văn nghệ cho mọi lứa tuổi, và cũng là sinh hoạt cộng đồng với những khách được mời từ thị trưởng đến các em học sinh gốc Việt theo học Việt ngữ, từng được giúp đỡ tại trường và sau giờ học.

Thu Thảo cho biết, cô rất thích hát và đã tập dợt với nhạc sĩ Kim Thanh để góp phần cho các buổi trình diễn này mang nhiều ý nghĩa, vui tươi và thể hiện ý tưởng muốn phục vụ như một phần tử nhỏ bé tạo thành một tiếng nói và vóc dáng chung của cộng đồng.

Thu Thảo kể lại, Em đã hoàn tất chương trình 4 năm đại học khoa quản trị kinh doanh thương mại, năm nay 23 tuổi, độc thân… Em muốn cống hiến hết mình cho nghệ thuật âm nhạc và trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp, cống hiến nét vui tươi sinh động trong ca nhạc để mang lại niềm vui cho cuộc sống.

Trong lúc tập dợt những ca khúc chuẩn bị cho một đêm ca nhạc sắp tới với ban nhạc của nhạc sĩ Kim Thanh (Night Rhythm) với MC/ ca sĩ Huy Cường tại Spring Taste. Thu Thảo cũng trao đổi với ông Tô Văn Lai (Thúy Nga) về sự hứa hẹn tập luyện của mình để trở thành ca sĩ trong thế giới âm nhạc và giải trí tại hải ngoại.

“Em thích Lưu Bích, Y Phương, Ngọc Lan là thần tượng qua những ca khúc, trữ tình thơ mộng. Em thích nhạc Anh Bằng qua: Đừng Xa Nhau, Chuyện Hoa Sim (Anh Bằng), Tình Nhớ (Trịnh Công Sơn) Bài Không Tên Số 2 (Vũ Thành An) Như Đã Dấu Yêu (Đức Huy) những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt, như: Búp Bê Không Tình Yêu (lời Vũ Xuân Hùng), Mưa Trên Biển Vắng (Nhật Ngân), Hận Tình Trong Mưa (lời Phạm Duy) Niềm Đau Chôn Dấu v.v… hay nói chung là những ca khúc được nhiều khán thính giả mộ điệu yêu mến. Em cũng yêu những ca khúc trữ tình có suy tư nhưng không quá buồn như Tình Chấp Nhận (nhạc mới) Goodbye My Love, Vòng Tay Người Ấy, Con Yêu. Dĩ nhiên là em rất thích hợp với dòng nhạc Ngô Thụy Miên – người nhạc sĩ của vùng Tây Bắc. “Mình hát là mang lại không gian trữ tình, sự thoải mái mơ mộng cho khán giả, có phải thế không ạ?” Thu Thảo lịch lãm tâm sự.

[gallery]

Nhớ lại một thập niên qua, từ khi Ngọc Lan “xa rời sân khấu” là khi Thu Thảo mới vừa bước vào bậc trung học, thế nhưng không hiểu vì sao,: “nét quyến rũ mơ màng, tiếng hát ngọt êm đã như lời mời gọi “rủ rê” em bước theo lên sân khấu… và rồi những tràng pháo tay, những lời khích lệ rộng luợng như của Bác sĩ Minh, người bảo trợ có những lời khuyên cố vấn hữu ích “Ca sĩ cần quan trọng chăm sóc ngoại diện” làm vui tươi sân khấu, tràn ngập ánh đèn. Ngoài ra còn có người phụ trách ca nhạc Dư Quốc Cường, anh Hải khích lệ khiến em thấy rằng… giai đoạn kế tiếp đó là do ý chí của em mà thôi, có nghĩa là chung thủy và đeo đuổi sự nghiệp ca hát… Em sẽ tập thêm khiêu vũ và nhảy để tự tin trên sân khấu qua những động tác của mình nhằm mang vào các điệu nhún nhảy minh họa cho các ca khúc trình diễn được thể hiện rõ và trong sáng hơn, như lời căn dặn của bác Tô Văn Lai (Thúy Nga Paris by Night) khi được nghe lời khuyên bảo của bác…, Lại nữa ngôn ngữ của “body language” cũng cần thiết vì mình còn đang ở tuổi thanh xuân, chính là một món quà “gift” của thượng đế trao phó cho sự chọn lựa sự nghiệp và hướng tiến của mình..

Thu Thảo nói tiếp: “Em đang tập những ca khúc của Anh Bằng, vì em thích từ nhỏ, em cũng tiếp tục lắng nghe những đóng góp của khán giả, những người bạn hâm mộ sân khấu và ca nhạc để được mang tiếng hát của mình ăn sâu vào trái tim của người nghe.

Ước mong hiện tại của Thu Thảo là được khán giả, đồng hương ủng hộ..” trong bước khởi đầu lấp lánh nét tươi sáng… ở tương lai

Kim Long (www.NVnorthwest.com)

Vietnamese-American actress stars in the lead role in an Indian epic
Monday, October 15th, 2012

By SABRINA SQUIRES
UW News Lab

Khanh Doan, an American actress who was born in Vietnam and escaped with her parents when she was a year old, believes her upbringing influenced her current work ethic.

“I grew up poor in an immigrant family, we had to work hard,” Doan said in an interview. “It was never explicitly mandated, but you just knew you had to work hard because your parents are working really hard to survive.”

In just a few days, Doan, 37, will perform in a starring role on Seattle’s ACT Theatre stage. ACT will present the world premiere of “Ramayana.” Promised to be full of romance, action and suspense, co-director Kurt Beattie says, “This may be one of the most ambitious shows ACT has ever staged.”

This heroic tale tells the story of Rama, a young prince on a journey to rescue his beautiful wife, Sita, who is played by Doan. This Southeast Asian legend will debut on Friday, Oct. 12.

Cast member Ray Tagavilla spoke warmly of working with Doan. “Kindness and talent don’t always go together, but she’s an exception,” Tagavilla said.

A Vietnamese Immigrant

After leaving Vietnam, Doan’s family moved to a suburb of Paris for a few years, then settled in San Diego, where she grew up.

Her stage debut in fifth grade, as Oberon in “A Midsummer Night’s Dream,” was when she realized acting was for her.

Laughing, she said it was odd that she was cast in that role, since he is the male fairy king. But Doan believes that is when she got the acting bug.

“I was pretty shy,” she said. “I guess I felt like I could be anybody when I was on stage. It was a good outlet for me.”

Doan’s father also used to sing and lead a church choir in Vietnam, so she thought there could be an arts influence there.

Although Khanh enjoyed the theater, her parents didn’t approve.

“They didn’t think it was practical and they were worried it would take away from my grades,” the actress stated. “But I still got straight A’s, so they had no excuse.”

Pursuing theater

Believing in the importance of education, Doan moved to the Bay Area and studied sociology at Stanford University, not thinking she would pursue a career in theater.

After graduating from Stanford, Doan worked a few office jobs. After doing marketing communications for different technology companies, she soon realized she preferred acting.

“I really missed it, so I auditioned and started doing theater on the side,” she noted. “Then, at some point I decided to move out of the Bay Area, so I moved to Seattle in 2003 and decided to just go ahead and follow my passion.”

Tired of meeting the same kind of “tech heavy” people, Khanh was ready for a change. She had visited Seattle a couple of times and was drawn to the nature and beauty of it all.

“I didn’t know how long I would last,” she added. “I moved in September and it was miserable for the first six months or so, but I made it through and after that I fell in love.”

It wasn’t until she moved to Seattle that her parents saw her in a production.

“They didn’t see a lot of shows I was in growing up, any really,” Khanh said. “Their English wasn’t that great, so I didn’t push them to. When I moved here I got a lead at the Seattle Children’s Theatre, I played Sleeping Beauty and I thought it was show that they could easily understand and relate to.”

She was 28 years old at the time.

“I think they were pretty wowed by it,” Doan added.

On “Ramayana”

Doan had never heard of the play before. A couple of years ago, Beattie, the artistic director at the ACT, brought together different artists, actors, writers and designers and wanted to do this project.

After reading it, she had no idea how it was going to be done. She said it could take days to really tell the story.

The writer of the play, Yussef El Guindi, amazed Doan.

“He really is a treasure for Seattle,” she stated.

El Guindi is a winner of the Harold and Mimi Steinberg/American Theatre Critics Association New Play Award, for “Pilgrims Musa and Sheri in the New World.”

Doan also believed in co-directors, Beattie and Sheila Daniels.

“I trusted with all that great talent and vision, we would bring to life a really good performance,” Doan said on what pushed her to do the play.

“It’s a three-act play, which is not commonly done,” she stated. “So it’s very ambitious. But it’s going to be gorgeous because it really does take from the East.”

She continued: “At the heart of it is a very human drama with emotions, family, love and doing the right thing, and making difficult choices. I think it will look very otherworldly, with the colors and the beauty.

“It’s something you wouldn’t normally see on the stage here in the United States,” she insisted, “but I think everyone will identify with the story itself.”

Rehearsing six days a week, 12 hours a day, Doan enjoys yoga during her spare time.

“I get lifted, I have to fall from a balcony, and it’s a lot of work,” she said. “I’m physically quite sore.”

Doan said yoga gives her the headspace and positive energy needed for the day.

“Once you are in a show, you have no life,” she added.

Although she is busy, she said she adores the actors she has been cast with.

“The cast is wonderful and they are all great actors who work all the time around town,” she said. “Everyone gets along. It’s a really good professional group of people, plus it’s fun.”

Khanh’s co-workers think just as highly of her.

Tagavilla, who plays Bharata, one of the brothers of Rama, stated: “Khanh is a fantastic physical actor. Her muscle memory is ridiculous, she make it look easy.”

Tagavilla also added that she is always on time and is focused.

“There is a passion she brings to rehearsal and to the stage that is undeniable,” Tagavilla said. “Trust is the most important thing to me in theater, and you feel an immediate kinship with her; nothing is faked, it’s who she is.”

Challenges

Being a woman of color in an industry that is still mostly dominated by Caucasian men, Khanh has high hopes for the future.

“There is always a lot more talent than there is work, especially for women in theater,” Khanh said.

She also added that it is even more difficult for women of color, because still today, most playwrights are white men.

“I wish there were more plays where they could be casted blindly,” she added. “A lot of times, if there is something for Asians, African Americans or Latinas, it’s about their culture opposed to just about people.”

Doan said Seattle is beginning to get more people of color writing about life today.

Future plans

Khanh is happy where she currently stands. She would like to do more film, though.

“Longer long term, I love theater but again, it’s a hard life,” she said.

She wants to keep doing something that is meaningful.

“I think what we do is good and important and it helps people think, but there are other things that you can do that are very tangibly beneficial to people,” Doan noted.

The actress has thought about doing something for a non-profit, or staying within the arts. Regardless, she said she doesn’t have any concrete plans at the moment.

She said the job market isn’t the same as it was during her grandparents’ or parents’ generations. It’s okay to have five careers in your lifetime now, she said.

Staying optimistic about her future she added, “You just take the plunge, you go for it and see what happens.”

For more information on “Ramayana” and ticket prices please visit: The Act Theatre

“Vietnam in the Rearview Mirror” Opens at the Wing Luke Museum
Thursday, October 11th, 2012

By SEAN C. FRASER
UW News Lab

Perhaps the most unexpected aspect of the Wing Luke Museum’s new exhibit “Vietnam in the Rearview Mirror” is that instead of reliving the past, it’s focused on the future. The exhibit, compiled by a group of individuals in the local Vietnamese American community, exudes a sense of hope for an ethnic group that has been recently defined by the tragedies of the Vietnam War.

“Vietnam in the Rearview Mirror” opened at the Wing Luke Museum of the Asian Pacific American Experience on October 4, and will be on display for two to three years. The interactive exhibit features oral histories of community members, photographs and cultural artifacts to convey the struggles, triumphs and progression of the Vietnamese American experience.

“The exhibit explores the complex and interwoven identity of Vietnamese Americans,” says Casey Bui, Co-President of the Wing Luke’s Board of Trustees. “It allows us to look forward to our future and who we want to become, and remember our past and where we came from.”

[gallery]

The gallery is broken into three phases, each representing a different generation’s experience. The exhibit progresses from the history of the elders to the journey of the parents, and culminates with the experience of the current generation.

The incorporation of digital technology in the exhibit further develops the focus on the future. Interactive screens show photo slideshows and allow attendees to listen to stories and accounts recorded by community members.

“The exhibit tells a story that has never been told,” says Diem Ly, text writer for the exhibit and a contributing member of the community advisory committee. “For Vietnamese Americans, this exhibit is the first step to reconciling both identities.”

Ly hopes that “Vietnam in the Rearview Mirror” will demonstrate the amazing opportunities available to members of the younger generation, and encourage them to progress beyond associations with the Vietnam War.

“Vietnamese Americans no longer have to hide behind the past; we can embrace it, and move forward,” Ly suggests.

Exhibits at the Wing Luke Museum are not compiled by a single curator; instead, they are collaboratively produced by a Community Advisory Committee. Members of the committee for this exhibit delved into their pasts to tell the intergenerational stories that have become essential aspects of their tradition, culture and identity.

Choy Vong, member of the Community Advisory Committee, has a cannon shell given to him by his father featured in the exhibit. Vong’s father brought the cannon shell home with him after the war. Every year, Vong polishes the shell and uses it as a vase for flowers, a way to both honor the memory of his father and represent post-war resolution for Vietnamese Americans.

Dan Vu, a lawyer who began his practice in Vietnam, shows his robe and briefcase at the exhibit. The two articles were the only items he took with him as he escaped from Vietnam a mere seven days before the fall of Saigon.

James Hong was a representative of the younger generation on the Community Advisory Committee. His undergraduate diploma from the University of Washington is on display in the exhibit.

“The creation of the exhibit challenged me to delve into my own history,” says Hong. “I hope that visiting ‘Vietnam in the Rearview Mirror’ will encourage attendees to become more civically involved; building bridges between the Vietnamese American community and others.”

“Vietnam in the Rearview Mirror” offers an opportunity for people of all nationalities to reflect on their heritage. While the focus is on the Vietnamese American experience, the exhibit is meant to relate to everyone.

“By involving children in helping other children, they will recognize more similarities than differences in each other,” says Son Michael Pham, Founder and Director of Kids Without Borders.

Attendees are invited to integrate a part of themselves into the exhibit by considering the legacy they hope to leave behind and adding it to a book at the end of the gallery.

“I left the exhibit with a sense of total excitement,” says opening night attendee Tagoipah Mathmo. “‘Vietnam in the Rearview Mirror’ truly conveys a sense of unity, and makes the world a little smaller.”

The stories shared in “Vietnam in the Rearview Mirror” are aimed at offering reconciliation and closure for Vietnamese Americans. The sense of community and identity attendees experience communicates newfound optimism.

“In creating the exhibit,” says Diem Ly, “there was a conscientious decision to not look at heartbreak, and instead focus on the future. That’s why Vietnam is in the rearview mirror.”

“Việt Nam trong gương chiếu hậu” Mở tại Bảo tàng Wing Luke

Increasing the Relevance of Minority Voters, from an Ethnic Media Perspective
Wednesday, October 10th, 2012

by Julie Pham

In May 2012, minority newborns began to outnumber their white counterparts in the US. But even with an African American president and huge growth of minority populations, why is it we as minorities are still far from exercising the full potential of our political power as voters?

Our voter turnout numbers are relatively low because of: 1) immigrants who are eligible for naturalization but don’t become citizens; 2) citizens who don’t register to vote; and 3) registered voters who don’t vote.

According to the Immigration Policy Center, there are 8 million immigrants nationally who are eligible but have yet to apply for naturalization. The US Census shows how minorities still trail behind non-Hispanic Whites in voter registration and voter turnout in Washington’s 2010 general election.

While about one-fifth of Washington’s population comprises of minorities, only about 8 percent of those who voted were minorities. Numerous local community organizations are conducting voter registration drives to reverse this discrepancy. Let’s support their efforts.

Aside from mobilizing more voter registrations and more voters, we need to reframe the popular perception that minorities vote in blocks (e.g., “the Latino vote,” “the Asian vote,” “the Black vote”). Voting blocks assume we are monolithic groups that can be “won” and “owned” by a party or a candidate. In short, our vote can be taken for granted.

Both parties and all candidates need to see that our vote is something still worth earning. But we have to prove we vote.

Rather than fortifying perceptions of minorities acting in monolithic voting blocks, increasing the number of minority voters overall will increase our political power. In 2010, I formed with my colleagues in local ethnic media an association called Sea Beez, which brought about 25 media outlets together that serve very different ethnic communities. We were able to strengthen our industry by coming together while maintaining our own diverse perspectives and opinions.

Sea Beez members keep money and politics separate. Sea Beez, as a collective, does not endorse candidates nor initiatives. We organize an annual Ethnic media Candidates Meet & Greet to foster opportunities for candidates to engage with local ethnic media and community members. This gives campaigns access to minority communities, but the only way for campaigners to capitalize on this is by seeing nuance, rather than homogeny.

In this year’s election, minorities will have numerous opportunities to exert our political power. We may even help determine if a Republican will step into the governor’s office for the first time since 1980.

Although neither gubernatorial candidate’s campaign office could quantify the efforts spent on engaging ethnic communities, both cited long lists of community engagement, multi-lingual campaign material, and dedicated full-time outreach specialists.

Another sign of Washington’s growing diversity is the increasing percentage of those who speak a language other than English at home (18.6%) and who speak English “less than very well” (8%). This poses challenges to mobilize voting in populations with limited English proficiency. Voting material in languages other than English are only available in four out of Washington’s 39 counties. In-language ethnic media serves as a major communication channel for those who speak English as a second language.

Ethnic media remains an underutilized tool to engage minorities during election season. According to the Public Disclosure Commission and a survey of local ethnic media, less than $30,000 was spent across 27 ethnic media outlets for campaign advertising in 2011. Of the 22 campaigns that advertised in ethnic media in 2011, only four spent more than $1,000: People for Quality Efficient & Accountable Home Care ($7,826), One America Votes ($6,895), Bruce Harrell ($5,273) and Thomas Rasmussen ($1,023). Budget dedicated to print, radio, and broadcast advertising for media in 2011 totaled over $12,400,000.

Many campaigners are currently playing it safe and they invest their campaign dollars in soliciting existing likely voters, rather than taking a risk and building brand awareness among potential ones.

With the relatively low voter turnout among minorities, it’s difficult for our ethnic media to convince politicians to invest in supporting outreach to our communities.

The sheer size of our growing ethnic communities alone does not prove relevance or grant us attain political power. It’s our votes that matter.

“Friends of Little Saigon” Protest Yesler Terrace Re-Development Project
Sunday, June 10th, 2012

By Don Pham

There are over 70,000 Vietnamese Americans in the Puget Sound Area. Little Saigon serves 100 Seattle businesses, most of which are Vietnamese owned. The neighborhood was formed 37 years ago in response to the growing refugee population, and is located in the International District primarily between King St and Yesler Way, and between Rainier Ave and 8th Ave.

Currently, this area limits buildings to 3-stories in height. Recently, the Seattle Housing Authority approved of raising that limit in Little Saigon to 15-stories. In neighboring Yesler Terrace, the limit will rise to 35-stories. Many residents and business owners worry that upcoming development projects will drastically increase the price of rent, forcing business owners into bankruptcy. Many comparable Seattle neighborhoods have a limit of under 65 feet: Capitol Hill, Madison Valley, Fremont, Wallingford, Ballard, Queen Anne and Columbia City.

Community leaders have proposed a compromise of an 8-story limit on buildings. They also request that the city invest towards the future of the neighborhood, to help the local population cope with sudden economic change. Proposals include funding for infrastructure and community recreation centers, to encourage small business owners and to help insulate the community from future displacement.

Organizers hope to gather 1,000 signatures by Monday, June 10th, in preparation for a meeting with City Council. For more information, please visit: http://friendsoflittlesaigon.org/

Our Community, by Vu Le
Tuesday, November 8th, 2011

When I was eight, my family left our village,Don Duong, and came to the US. One day, I was taking the school bus home, got off at the wrong stop, and ended up wandering around downtown Philadelphia. I was scared, lost and confused. Unable to speak any English, I wandered the streets, trying to find my way home. It must have been worse for my mother, who waited for me at the bus stop. When I didn’t show up, she climbed on to the bus and somehow convinced the driver to drive around looking for me.

For the next several years, my parents watched while I drifted further and further away from my culture. I refused to go to Vietnamese class on the weekend. I barely spoke to my parents. I did not appreciate how hard they worked, and how hard they tried to preserve the Vietnamese in me. I can recall the vivid memory of the day I left for college: my mother, standing at the door, watching her son slip away to be American.

I am much older now. I have started understanding the values that my parents tried to teach me. When I have my own kids, I want them to be able to speak our language and know our culture. I want them to be proud of who they are and where they came from.

For the past six years, I have worked at the Vietnamese Friendship Association. This organization was founded to help the many refugees who came to Seattle after the War. It has been 35 years. Our community has many strengths. We are hard workers. We value family and education. We have many successful professionals and businesses.

We also have many problems that we need to address. In 2009, VFA launched a research project, the Community Action Research and Empowerment (CARE) project. We trained Vietnamese college youth to go out and interview community members about their hopes and vision for the community. They talked to hundreds of people and collected over 300 surveys. From this project, we learned many things. For example, that there are not enough services for our elders. Youth are losing Vietnamese language and culture. We learned that education is a high priority for our community, but only about half of the Vietnamese students successfully pass Washington state math and science exams. 25% of our survey respondents do not have healthcare coverage, while 16% are unemployed.

However, we also learned that people have hope for a united Vietnamese community, where youth and elders understand and work with each other, where our kids can sing traditional Vietnamese songs, where we are strong economically, civically, and politically.

We have just launched Phase II of the CARE project, where we will use what we learned and invite community members to join together to develop an action plan to strengthen our community. In the spirit of collaboration, VFA will continue to share research findings, as well as stories from the youth, professionals, and elders working to preserve and advance our culture and community. This column will appear monthly and will focus on everyday issues that affect our community, such as education, senior services, culture and language preservation, employment, and more. We hope that you will be involved in the discussion. Together, we can strengthen our community and help our children find their way “home.”

Vu Le is the Executive Director of the Vietnamese Friendship Association. VFA is a nonprofit organization with the mission to strengthen the Vietnamese community in Seattle through academic, leadership, and family engagement programs. Learn more at vfaseattle.org

Proposed creation of a “majority minority district” as the new 10th Congressional district
Tuesday, August 16th, 2011

* by Dr. Julie Pham

SEATTLE (NAM).-The forum designed to solicit public comment on redistricting with the highest attendance across Washington was one that was never meant to be. This forum also drew the most ethnically diverse set of attendees, many of whom came to share their views on the proposal of a new majority minority congressional district, the issue that has drawn the most attention throughout all the public forums.

Originally, the Washington State Redistricting Commission (WSRC) only scheduled 17 public forums to listen to the public’s opinion on how the state should be divided up into congressional and legislative districts. Last month, after the public expressed desire to hold a forum in south Seattle, which contains one of the most ethnically diverse zip codes in the nation, the WSRC agreed to hold one more forum there on August 9.

At the eighteenth forum, WSRC counted over 165 people who crowded New Holly Gathering Hall in south Seattle, considered to be home to one of the most ethnically diverse zip codes in the United States. According to WSRC, most of the previous forums averaged 40-65 attendees.

“I was impressed by how organized and energetic and positive the crowd,” Bonnie Bunning, the Executive Director of WSRC. “There were some very thoughtful comments about what it means to be a new American and what redistricting means to them, especially for those who came from countries that don’t have the same democratic process.”

Local resident Linh Thai came to the forum to express his support of a majority minority district. He said he has volunteered his time gathering signatures from many Vietnamese Americans for the UFR’s petition.

“Having a 10th congressional district will mean elected officials elected by a majority of minorities,” said Thai. “That would be the fair and right thing to do, at the state and federal level. Being able to vote for elected officials who represent our interests means having a seat the table, which is extremely important in terms of asset allocation.”

After the 2010 Census showed Washington’s population increased by nearly 1 million people, Washington gained a tenth congressional district. People of color also make up 27% of the state. According to the Census, Washington’s Hispanic population grew by 71 percent and the Asian population grew by 50 percent. Minorities make up 35% in King County and 52% in Yakama County. According to immigrant rights group, OneAmerica, immigrant voters represent 7.5% of the state’s electorate – or 231,755 registered voters.

With the minority populations on the rise, voter advocacy groups want to see the creation of a “majority minority district” as the new 10th.

The United for Fair Representation (UFR) coalition leads the effort to push the WSRC to draw a majority minority 10th congressional district and they have already submitted “Unity Maps,” versions of what a majority minority tenth congressional district based in south Seattle and south King County could look like.

The coalition comprises of leaders and organizations serving communities of color across Washington State including the Win-Win Network, One America, Latino Community Fund, Tacoma Black Collective, Asian Pacific Americans for Civic Empowerment and more. Aside from organizing people to testify at the public forums, they have also started a petition.

If a majority minority district is approved, it would be a historic first in Washington State.

“This is a great civic engagement community opportunity,” said Cherry Cayabyab, redistricting campaign manager for UFR. “We were able to create these maps based on the data people created in the census form. That’s why it was so important to fill out their Census form. And make sure their vote count. “

The UFR coalition also advocates for another congressional district in Eastern Washington to be redrawn so that Yakama and the Tri-Cities, home to large Hispanic populations, will be in put together in one congressional district, strengthening the Hispanic vote in that area.

“This region is where the inequity is clearly violating section of 2 of federal Voting Rights Act of 1965. The Latino community is cracked in three districts, their votes are being diluted, their voting power is being diluted,” said Cayabyab. “With our proposal to create this, if the commission doesn’t redraw the district, then there will be litigation from ACLU.”

WSRC declined to comment on how the 18th forum would sway the commission’s decision on how to draw the districts because they want to remain open-minded to more public comment, which they will accept through November 1. The commission comprises two Democrats, two Republicans, and one non-partisan member. People have the right to submit alternative maps until August 15.

Q & A with Henry Vu
Monday, August 1st, 2011

Caption for (Henry Vu.jpg): Stephanie Kim, Moses Yim, Henry Vu

Vietnamese American actor Henry Vu will be starring in “Yellow Face,” which will be performed at Richard Hugo House, 1634 11th Ave, Seattle, WA, Aug 5 – Sept. 3.

1. When were you born and where?
February 21st, 1989 in West Hills, CA – Just outside of L.A.

2. How did your parents come to the US (e.g., 1975, helicopter, boat people, HO program) and when?
My father escaped the Communists in 1975 by boat. My mother, through a mix of events was left behind while the rest of her family came to America. Only after many years, could she be reunited with them.

3. Was your father or any male relatives in the South Vietnamese military? What roles?
N/A. I never heard many war stories growing up, though I’m sure there was involvement in the S. Vietnamese military.

4. What was it like growing up Vietnamese-American? Where did you grow up?
I moved up from California to Seattle when I was six. So I practically grew up despising the rain. As I grew older, my identity as a Vietnamese-American became more defined. A few of my friends in elementary school introduced me to the term “azn pryde” and that’s when I noticed I was different. I would hang out with other Asians and share stories of how our parents are the same and what we do in the house etc. I was also a part of, and still a part of, the Vietnamese Eucharistic Youth Society, which beautifully meshes the Vietnamese culture with the Catholic faith. It practically defines who I am today.

When I started high school, I had to move to a new school, which was predominantly Caucasian. Stereotypes of Asian people were automatically set on me. “It’s because you’re Asian” became the new line tossed around. I started to set myself apart from the term Asian and embraced the fact that I was not just Asian, but Vietnamese. Today, most of my closest friends are Vietnamese.
But after all the self searching and figuring out where I belong, I believe there is no specific category to put me in really. We are all different, and when we share that difference with everyone else, we begin to understand each other more and find some similarities. In the end, we’re all just people.

5. Why did you decide to study theater?
I started studying premed (that’s how it always starts) and was shooting to major in microbiology. I found that all of this was not what I wanted at all. So I made a compromise and decided to major in the wonderful world of aquatics and fishery sciences, and still do premed. Then, after a wave of bad grades, I knew the sciences were not for me. I looked at my transcript, and the only good grade I had was a drama 101 class I took for art credit. I remembered joking that I wanted to be a movie star when I was younger, so what the heck, I threw all of my parents’ premed dreams away and put all my effort into drama. I knew this was my last chance to decide on a major so I wanted to be as involved as possible and just get some good grades. And after the first quarter, I loved it. My cumulative shot up a whole grade point and I met so many passionate students who loved what they did. I got to sing and dance and express myself through plays and musicals. And I actually enjoyed reading (because plays are so much shorter). I studied theater because, simply, it was a joy and I loved it.

6. What did your parents think about your decision? Do you have any performance artists in your family?
Of course, my parents were concerned with my future, wondering how I could possibly be successful. To this day, they are still doubtful. There are no performance artists in my family, so it is hard for my family to grasp all of this. My uncle, who is very artistic and talented at many crafts, even became a doctor because he knew the arts would not bring success. My grandfather is very supportive though, and believes people should do what they love despite what others may think.

7. Do you speak Vietnamese? If not, can you understand it? Did your parents speak Vietnamese in the home?
I am very fortunate to be able to speak, read and write Vietnamese. My vocabulary is not as good as a native speaker, but I am slowly learning more and more. I am not afraid to speak in Vietnamese to older people or people who just came to America. I owe it to my parents for not only speaking Vietnamese at home, but also making me speak it at home.

8. What do you like in particular about “Yellow Face”? What character do you play? Please comment on your character.
I play a number of characters but I think the most prominent character is HYH (Henry Y. Hwang). He is the playwright’s father and in this autobiographical play. HYH is a super fun character with a lot of spunk. He is proud of his accomplishments since he’s come to America and always wants his son to never lose hope and follow his dreams.

9. What do you like most about this play and its message?
I really like the how this play is a mockumentary. It is based on some real people and David Henry Hwang even pokes fun at himself. All artists do share a bit of their life in their work, but he actually puts his name in the play which is a very brave thing to do. The message has put a lot of things in perspective for me. All the struggles of an Asian American are apparent in the play, and I really relate to them, but what surprised me was that all that race stuff just doesn’t matter in the end. It’s just about following your dreams, and being whoever you want to be.

10. Are you a Pork-Filled Player? Or just in this single play?
This is my first play outside of school, and I am very lucky to be in a Pork-filled Player production.

11. Do you have a day job?
I fit the stereotypical actor profile of working as a waiter. It is at my father’s restaurant though, so I just do to help out the family.

12. Do you have any Asian actors as role models and/or mentors? Any Vietnamese?
I think any Asian person that does anything in this field deserves recognition. They have steered away from the typical careers of doctors and lawyers, and are doing something they love.

13. What do your parents/family think about Yellow Face?
My mother is always hesitant to go to plays because she is afraid she won’t understand anything. My dad doesn’t seem to be in the loop much either. But they know I am in Yellow Face and are a little happy I’m finally getting somewhere.

14. What are you most excited about?
I am most excited about seeing David Henry Hwang. He is coming to a performance and it is an absolute honor.

Watch “YELLOW FACE” by David Henry
WHO:
The Repertory Actors Theatre (ReAct Theatre) and the Pork Filled Players.
WHERE: Richard Hugo House, 1634 11th Ave, Seattle, WA
WHEN: August 5 to September 3, playing Fridays at 8:00pm, Saturdays at 2:00pm
and Saturdays at 8:00pm
HOW: Online, in advance, at Brown Paper Tickets http://www.brownpapertickets.com/event/181433
General Admission: $12
Students/Seniors: $9
At the door:
GeneralAdmission: $15
Students/Seniors: $12
TPS/Industry/Union: $6
Group Discount Rates are also available for parties of 10 or more
http://www.reacttheatre.org or http://www.porkfilled.com

The Vietnamese Friendship Association helps new Vietnamese immigrants adjust to life in the US.
Friday, July 22nd, 2011

The Vietnamese Friendship Association helps new Vietnamese immigrants adjust to life in the US. The Community Action Research and Empowerment Project’s Community Assessment Report shows that 67% of Vietnamese surveyed are very concerned about finding work. The E-verify process would impact all immigrants trying to find work along with all employers, big and small businesses, who would have to spend money to verify if their employees are legally allowed to work. (photo: VFA)

The Creation—and Consequences—of the Model Minority Myth
Friday, July 22nd, 2011

by Julianne Hing
Wednesday, July 6, 2011
Reprinted from Colorlines

Last month, Congressman Lamar Smith (R-TX) introduced the Legal Workforce Act, which would require employers to verify their employees’ legal immigration status using the online program E-Verify. While proponents of the program believe the resulting loss of jobs will compel undocumented workers to return to their home countries, not all policy experts agree.

“The law would just drive eight million unauthorized workers even deeper into the shadows,” said Angela Kelly, an analyst at the Center for American Progress (CAP).

Back in 2006 and 2007, proposed immigration reform packages included E-Verify mandates, but were counterbalanced by legalization programs for the 11 million or so undocumented people currently living in the United States. Today, only 4 percent of U.S. employers use E-Verify. If participation in the program becomes mandatory through the Legal Workforce Act, however, it would likely take the wind out of comprehensive immigration reform bills such as the one introduced by Sen. Robert Menendez (D-NJ) last month, according to Kelly and her colleagues at CAP.

During a teleconference hosted by New America Media on Wednesday, Kelly and Philip Wogin, both immigration policy analysts at CAP, told ethnic media reporters that the E-Verify legislation would also have other unintended consequences.

“This bill would break the backs of small businesses,” said Kelly, who shared CAP estimates showing that the mandate would cost small businesses a total of $2.6 billion a year.

In theory, E-Verify allows employers to ensure that all of their employees are legally authorized to work in the U.S. To do so, the employer enters personal information, including the birth date and social security number or alien identification number of the employee, into the E-Verify system. Then, the Social Security Administration and U.S. Bureau of Citizenship and Immigration Services (USCIS) cross check that data against existing records. If the information matches up, E-Verify issues proof of work authorization.

If there is a mismatch of information, E-Verify issues a tentative non-confirmation to the employer. When this occurs, the employee must contact the government in order to sort out the issue. If the employee fails to resolve the data discrepancies, E-Verify then issues a final non-confirmation notice. Under Smith’s proposed bill, the employer would be legally obliged to fire the worker after receiving the second notice.

Part of the problem, said Kelly and Wolgin, is that the current E-Verify technology is not accurate. CAP estimates that the system will accurately identify only about half of all employees who are not legally authorized to work in the country. Conversely, many employees who are legally authorized to work could be erroneously flagged by E-Verify as unauthorized. CAP estimates those employees would then have to spend an average of $450 in lost wages and transportation costs just to straighten out the misunderstanding with the government. Although legally, employers have to wait for the final non-confirmation notice before firing their employees, CAP has found that employers who already use E-Verify often fire their workers after receiving the first, tentative non-confirmation. CAP estimates that 770,000 people who are legally authorized to work in the United States could lose their job if E-Verify becomes law.

Kelly noted that the federal government would also stand to lose revenue, if unauthorized workers choose to move from the formal to an informal economy as a result of the E-Verify mandate. In addition to the lost income and tax revenue that will cause, said Kelly, there is also the startup cost to the federal government.

“This is a program that would result in a massive expansion of government,” said Kelly. CAP estimates that the Department of Homeland Security would spend about $800 million just to establish the program. It would cost the Social Security administration $281 million.

The bill is likely to be debated in the Judiciary Committee, of which Smith is the chair, later this month. If it passes the Republican-controlled committee as expected, it could be introduced on the House floor as early as September.

Although Congressional Republicans appear to support the bill, it is not without some controversy within the party. Pennsylvania Representative Lou Barletta, the former mayor of Hazleton, who famously cracked down on the employers of undocumented immigrants in his town, objected to the federal government taking on what he sees at a state issue. To date, Arizona, Georgia, South Carolina, Alabama and Indiana have all passed immigration laws that include E-Verify mandates.

Senate Majority Leader Harry Reid has said that he will not support a federal E-Verify mandate separately from comprehensive immigration reform.

Quang Nguyễn appointed to the Commission on Asian Pacific American Affairs
Tuesday, July 19th, 2011

OLYMPIA – Gov. Chris Gregoire today announced the following appointments
to the Commission on Asian Pacific American Affairs.

Lisa Dickinson, Pearl Leung, Frieda Takamura, and Quang Nguyen.

Quang Nguyen resides in Seattle, Washington. He is an Economic Development Specialist for the Seattle Chinatown/International District Preservation Development Authority. With over 10 years of community leadership and economic development experience, Nguyen most recently served as the executive director for the Washington Vietnamese American Chamber of Commerce. Seattle Magazine recognized his work advocating for the preservation of the Little Saigon community as one of the top “2009 Influential Acts.” He is a board member on the Washington Vietnamese American Chamber of Commerce, Friends of Little Saigon, Seattle Symphony, Celebrate Asia, and the Yesler Terrace Citizen Review Committee. He received a Bachelor of Arts in Philosophy and Linguistics from the University of Washington.

“I’m honored to be appointed by the Governor to this position. My goal is to amplify the voices of the Vietnamese-American community as well as the Asian-American community at the state level of government. I will focus on economic development issues by looking for ways to support small businesses as well as ways to create more jobs for our community.”

The Commission on Asian Pacific American Affairs was established by the state legislature in 1974 to improve the well-being of Asian Pacific Americans (APAs) by ensuring their access to participation in the fields of government, business, education, and other areas. It has a board made up of 12-governor appointed members that represent the diverse APA communities of Washington State.

LETTER TO MY CHILDREN AND GRANDCHILDREN
Friday, July 8th, 2011

* NGUYỄN VĂN PHÚ
(translated by Minh Chau)

Editor’s Note: Vietnamese Americans who lived through the Vietnam War have many stories to share with the generation of Vietnamese who grew up in America. With our busy lives and because of language barriers, sometimes these stories are not shared, not even within one household. — writes a letter to grandchildren and this English translation enables him to share his memories and his opinions on modern Vietnam with his children. This article was written by Mr. Nguyen Van Phu, Principal of the Hung Dao private famous high school in VietNam, to inform and educate the 1.5 and 2nd generation Vietnamese-Americans about the history of the first Vietnamese refugee’s new life in America and out of exile. (NVTB News)

Dear old friend,
While waiting for our children to pick us up from our monthly meeting at the Seniors’ Association, you and I had, on several occasions, the opportunity to discuss and to agree on a number of important points. You urged to me to put our thoughts on paper to share with our descendants because, as you said, your hands tremble so much these days that you are having difficulty holding the pen. Moreover, this year marks the 30th anniversary of our self-exile as refugees and we both thought it would be useful to transmit a clear message to our children and especially our grandchildren. During these last few months, I endeavored to accomplish the task you assigned. Today, my work may be considered complete. For ease of presentation, I wrote this article in the form of a letter by a father to his children. Please review it at your convenience. I would very much appreciate any corrections and improvements.

****

My beloved children,

Your mother and I are both in our eighties now, longevity virtually unknown to the earlier generations. Over the years, we have had many occasions to talk to you about a number of important subjects, but you were often not all present at the same time to share the same conversations. Moreover, you may not have entirely retained our message. Hence, this letter to summarize the key points that your mother and I wish to impart to you. For your children who speak Vietnamese but do not read it very well, we ask that you find the best way to communicate our thoughts to them and offer them the necessary explanations. It is not enough to merely take note of what we put today in writing for you. Please make an effort to really grasp the fundamental meaning of our message.
Gratefulness — My beloved children, in fleeing the communist regime in search of freedom, we had to leave everything behind: our properties, our ancestral shrine, as well as our ancestors’ final resting place. The authorities and the people of this adopted land opened their arms and their hearts to help us rebuild our lives. Now that we are relatively well established, we should be grateful and show it by doing our best to help make this nation even greater, stronger and more prosperous.

The cause of our exodus — You must be sure to explain clearly to your children the reasons which pushed our family as well as hundreds of thousands of others to choose a life of self-exiled immigrants in a foreign country: we fled communism, in search of freedom. Your children have the great fortune of living in a democratic society. Having known nothing but freedom since they were born, they would never imagine the full extent of the duplicity and the cruelty exerted by the communists. They would find it difficult to believe the atrocities to which men can submit men. (In due time, you may let them watch the movie Journey from the Fall, directed by Trần Hàm, which premiered on April 30, 2005.) The communists are cruel in action, but very cunning in words and especially skilled in the art of concealment! Hence the need to really explain things to your children to ensure they have a full understanding of our background, not to incite hatred in them, but so they can be aware of the truth. We often repeat this saying amongst ourselves: “Don’t listen to what the communists say, just examine what they do.”

Our native land — Regardless of how busy you are, take the time to reflect on the history and the geography of Viet-Nam in order to understand the origin of our people and the creation of our homeland. Learn about the vicissitudes that our people experienced, including the moments of glory and the times of humiliation. Appreciate the wisdom and accomplishments of our forefathers as well as their mistakes. These are all lessons that we should learn and communicate to our descendants. The pages of our history books are alternatively filled with glorious achievements and painful tears. There was a time when our country had to bear the humiliation of Chinese occupation during a thousand years. Then, our heroic people rose to break the subversive bonds of domination and reclaimed our independence. Our past also included periods when we invaded and destroyed other countries. The most recent incident is the destructive ten-year occupation of Kampuchia, which incited the hatred of a neighboring country and created unwholesome karma, the fruits of which future generations will have to bear.

Recent historical events — Our country became a French colony around the end of the 19th century. In 1940, a World War erupted. In Việt Nam, on March 9, 1945, the Japanese overturned the French in a military coup. Emperor Bảo Đại enacted the abolition of the treaty of protectorate concluded with France and entrusted to Mr. Trần Trọng Kim the formation of the first government of the independent state of Việt Nam. On the global scene, the countries of the Axis – Germany, Italy and Japan – were overcome by the Allies – England, France, the United States, the USSR and China. In our country, on August 19, 1945, the Việt Minh revolutionary forces seized the power held by the Trần Trọng Kim government and proclaimed the creation of the Democratic Republic of Việt Nam. As France sought to restore its domination, on December 19, 1946, a war of national resistance was declared in view of defending our independence. At that time, the Việt Minh revealed its true communist nature and initiated a campaign to eliminate the nationalist groups. Faced with the danger of being gradually eradicated, the nationalist parties pulled back into special zones controlled by another non-communist government.

After the battle of Điện Biên Phủ, the Geneva agreement of 1954 divided our country into two: the North became the Democratic Republic and the South, the Republic of Việt Nam. The North pledged open allegiance to the communist bloc and immediately launched the process of conquering the South by force, an act which it dissimulated to the eyes of the world by operating behind an organization of its creation, called the Front of Liberation of the South. At that time, South Việt Nam accepted the support of the United States and the allied forces of the free world created to stop the expansion of communism. In the 1960s, as the invading forces from the North grew in numbers and in strength, the United States started pouring their own troops into the South, and the war intensified.

In 1972, after the rupture of relations between the USSR and China, President Nixon went to China and signed the Shanghai Agreement. Consequently, no longer needing an “outpost in the fight against communism”, the United States dropped their support of the Republic of Viet Nam! [The book “Khi Đồng Minh Tháo Chạy (When the Allies Ran Away)” by Dr. Nguyễn Tiến Hưng reveals the disappointing truths about the betrayal of the Americans in their shameful flight.] According to the Paris agreement signed in 1973, the United States was to withdraw their troops from South Viet-Nam and only leave in place a number of military advisers, while the North Vietnamese troops remained fully stationed in the South! The Communists of North Viet-Nam were therefore free to continue their unabated invasion of the South with the considerable assistance of the international communist bloc. Despite the courage shown in its war of self-defense, because of the serious lack of ammunition and fuel, South Viet-Nam was pushed into an untenable situation. On April 30, 1975, Saigon, the capital of the South, fell. In the months and years following that date, the world witnessed the exodus of the Vietnamese men, women and children fleeing communism, in search of freedom. I trust you already know the next chapters of our story with sufficient details.

Historical data and information — We live in an era of information and we are indeed swamped by a glut of data about everything. Much has been written about Viet-Nam and the Viet-Nam War, including photos and movies, but we found a serious shortage of books and films that are objective and truthful. There are of course a few authors who did try to provide an honest account of the war. Unfortunately, each of them only succeeded in relating one particular aspect of the truth, in the manner of the blind men in the ancient fable who tried to describe an elephant by each touching a part of its body. Moreover, many authors knowingly bend the truth to fit their personal justification or neurosis about the war. Still others, including certain monastic figures, make up stories for the purpose of slandering. The worst misrepresentations are found when those in power or their scribes engage in History writing. Alex Haley wrote in the last lines of his book Roots: “… preponderantly the histories have been written by the winners”. This is why we insist that you, and especially your children, should be extremely cautious and discerning in reading the books or viewing the films about Viet-Nam produced in the end of the 20th and the beginning of the 21st century, regardless of the authors and their nationalities.
From your parents’ perspective, the conflict that took place in our country from 1954 to 1975 was a war that opposed the North to the South, a civil war, a war by proxy resulting from the confrontation between the communist bloc and the free world, a war delivered with the weapons of the foreign countries and the blood of the Vietnamese people. For the South Vietnamese, it was a war of self-defense. Meanwhile, in the North, through propaganda and education of the masses, the communists portrayed it as a war delivered against the American puppet regime to reunify the country. The Northern winners had been arrogant and cruel; the defeated Southerners swallowed their pain and their anger, and bowed their heads in humiliation. There lies the heart of the deep chasm dividing our people (even though in all truth, there are many other reasons for the division). As long as one does not succeed in changing these two opposing views, it would be useless to speak about national reconciliation! Millions of dead people, a reunified country, but the Vietnamese people still remain deeply divided in their heart.

Visiting Viet-Nam — Many people asked us whether we had returned to Việt Nam. Our response has always been: “Not yet, because of our health.” Many have returned to Viet-Nam, each for their own particular reasons. Needless to say, we all long to be reunited with our homeland, but everyone has a personal view about the pros and cons of the matter! Returning to the country to care for one’s aging or sick parents, to help one’s family, to restore one’s ancestral tombs, to teach young students, to visit one’s country, these are valid reasons to go. Returning to the country to bring solace to victims of natural disasters, to selflessly help compatriots in need, these are also commendable motives. But returning to enjoy sensual pleasures, to take advantage of cheap tourism, or to seek monetary gains and official distinctions, then it is better to abstain.

Later, if the country has shown some real improvements, you may want to bring your children to visit our homeland. But we predict that they will not be particularly moved — one may not feel any emotion if there are no memories which associate one with something. Thus, in raising your children, please try to provide guidance and help them appreciate our native land, our people, our compatriots, and make sure they do not behave as vulgar tourists. As for the probability of your returning to live in Viet-Nam, we do not expect the prospects to be very positive.

The real situation in the country — If somebody tells you that the country has made progress — that the majority of the population are now able to eat rice with every meal, compared to the mix of rice and oats of the post-1975 era; that motorbikes and cars have mostly replaced bicycles — know that in truth, such progress only reflects the normal evolution of any country (after all, it would be unthinkable that after thirty years of peace, no growth or progress were achieved!). However, in terms of real democratic progress, if we compare Việt Nam to its neighbors, we cannot help feeling shame for the country’s failure in many aspects (even Kampuchea has an opposition party!).

If you want to know the real Việt Nam beyond the tall buildings, the shiny cars, the luxurious five-star hotels, the modern golf courses, then seek information from inside the country to see the extensive breakdown in many sectors (education, in particular), the excesses of “red capitalism”, the plague of widespread corruption, and the waste of our nation’s natural resources. And don’t forget to visit our compatriots who live in desolate poor regions in the back country. We need to look objectively at the actual situation without any make-up, that which is painted neither in pink nor in black.

For a clear view of the situation in our country, refer to a speech by Dr. Lê Đang Doanh, former Director of the Central Institute of Research on Management in Hà-Nội. In this speech, Dr. Doanh voiced the whole truth to the highest communist leaders. This document recently made its way abroad. In a presentation which is made of this text, one can read: “We should all pay attention to the numbers that point to the sad reality of the economic situation in Viet-Nam. Mr. Doanh underlines the weaknesses of the economy and the antidemocratic nature of the communist regime in Việt-Nam. He affirms unequivocally that the political infrastructure is obsolete and should be changed.” (Ngô Nhân Dụng, in Nguời Việt Daily, March 30, 2005).

Mr. Doanh relates the following story. An expert in international finances asked him the following question: “Clever as you claim to be, how come your country is still poor after such a long period? With your intelligence and your proud tradition, why do you beg all the time? Why don’t you give yourself a goal in time after which you will resolve to stop asking for alms? Is this possible?” How humiliating for us all! Our country is not populated only by incompetents; our people are not lazy; why this utter misery? It is all due to the dictatorship of the Party!

Having a political attitude — Our fellow expatriates are not the only ones who demand the abolition of the unique-party regime; some members of the Communist Party and progressive elements in the country are also clamoring for the same. Understand this: the fight against dictatorship, against a single party regime, against corruption, against the erroneous policies of the Communists, is not a fight against Viet-Nam; it is, quite to the contrary, an effort to move forward so that the country can improve and grow.

Some may say that the Vietnamese Communists did implement some change with the “Đổi Mới” or modernization program. Know that whatever modest change there was, it was the consequence of the collapse of communism in Eastern Europe, of the fight against oppression by the Vietnamese people inside the country and abroad, and of international pressure. It was the threat of the disintegration of the Party which drove the Communists to institute economic modernization (with no modernization whatsoever on the political level). Even though we do not “do politics”, we must nevertheless adopt a political attitude; we must continue to support the effort to bring about effective democracy and freedom to our country.

The Secretary General of the Communist Party recognized that the Vietnamese Communists “committed several serious errors.” The question that begs to be asked is this: if errors have been made, then why not correct them? Why not offer to the people a public apology? Why not return the wrongfully taken land and properties to their individual owners and religious institutions? Why not compensate the victims of the land reform, of the repression against the intellectuals and artists in the Nhan Van – Giai Pham period, and of the waves of reforms in the industry and commerce sectors? Why not redress the harm done to those sent to the so-called “reeducation camps” and beg their forgiveness? In truth, everyone wishes to put aside hatred and resentments, but it is up to the Communists to demonstrate some constructive behavior that would convince the people of their good-will. It is utterly useless to simply say “let us erase hatred and resentments, let us forget the past and look towards the future” without doing anything concrete to turn the idea into policy and practice. To call for Dai Doan Ket or Great Union on the one hand, and to place the proposed reconciliation under the stewardship of a unique, all controlling Party (Constitution, article 4) on the other hand — how would you expect anyone to trust such empty words?

Our family — Let’s now talk about our family. Your mother and I belong to an older generation. We raised you in accordance with the standards of our generation, just like your grandparents raised us according to the standards of their time. You must have at times found us too strict. We simply followed the norm of our times. We hope that you will forget any unhappiness that, unaware, we may have inflicted upon you. Know that we did not seek an extravagant lifestyle, that we were never wasteful and that we lived well within the ethical and moral guidelines of our culture. We worked hard and saved every penny to provide for our family so that you could have a relatively comfortable life, a good education and a warm and happy home.

Because we had been despoiled of all our assets by the Communists, we experienced a rather difficult beginning on arrival in this country. Your mother and I had to accept very harsh working conditions. And you also, you had to work hard and diligently during your holidays in order to complete your studies. Today, everything seems to have fallen in place quite nicely. You should try never to be self-satisfied or to think of yourself as the best. Remember this: “When you look up, you will find that everyone is better; when you look down, you will see that everyone is worse.” Your personal talent, if any, counts only to some extent, the remainder results from the combination of favorable circumstances and the intangible benefits inherited from your ancestors and from your own actions in former lives and in this life. Always cultivate a virtuous life in order to improve your karma, in the same manner as a motorist must recharge the battery of his car. One reaps what one sows. Such is the universal law of cause and effect which leaves no one untouched!

Regarding your small family unit, here is our advice: between husband and wife, it is important to respect one another, to share and to compromise. Frictions are inevitable; resolve problems with patience, calm and wisdom. Anger is bad council, avoid it at all cost.

With respect to your children, love them without spoiling them. Be sure to keep an eye on their social circles. Establish contacts with the parents of their friends in order to obtain a fuller and deeper understanding of who they are. In our society today, bad peer influence is such a widespread phenomenon! The time spent watching television, playing video games or “chatting” on the Internet should be limited. On the other hand, it is important to encourage the practice of some physical activities and sports. This also applies to you personally. Be sure to include physical exercise in your routine in order to balance your activities. Let your father’s health condition be an inspiration to you. In my youth, I spent countless hours tied to my work. As a consequence, today, in my old age, my body “demands justice”, and I am frequently ill.

In your daily life, be thrifty (but not miserly). Make an effort to protect the environment because the resources of the world are limited; we must think of the future generations of our descendants. Do not waste anything, not even the Kleenex that you use to clean your hands. From time to time, let your children view the photographs and the films showing little children who are suffering terribly from hunger and cold; this will help them learn that in this world, a great many still live in misery.

Between brothers and sisters, keep in mind the following Vietnamese proverbs: “Brothers and sisters should be linked like hands and feet”; “when an elder sister falls, the little sister must help her up”; “a drop of blood is more valuable than a pond of water”; “when a horse is sick, the whole stable stops feeding”. The secret to maintaining good relationships between brothers and sisters may be found in one word: “forgiveness”. Do not hold rigor with your brothers and sisters for their defects. Any discord between you would be extremely painful to us.

In this society, as everyone seems to be short of time and can barely take care of his own immediate family, the extended family is somewhat neglected, much to our regret. Please make an effort to emphasize the tight relationship and unity in the extended family. To our daughters and daughters-in-law, we have a special request: help your husbands to maintain good relations between your brothers and sisters, as well as with all relatives on both the paternal and the maternal sides of the family.

Speaking Vietnamese — Some points need to be mentioned here. Your children have grown up as citizens of our host country with all the related rights and duties. Their daily life at school and in society forces them to speak and to write English and/or French impeccably, or they would run the risk of not being able to fully integrate in their social environment, of being insulated and missing out on opportunities for success and growth. They communicate with each other quite fluently in the two languages. Even though you do encourage them to speak Vietnamese at home, we feel their command of our language is rather weak. Their conversation skills are lacking, and their writing skills are even worse. This is understandable because they never dedicated enough time practicing reading and writing in Vietnamese! To help your children acquire any meaningful command of our language, it is simply not enough to spend a few hours each weekend at the language school with a teacher, as dedicated as she may be. Just think: in Vietnamese, the nomenclature, the hierarchy and the forms of address for various members of the family are one of the most complicated in the world!

Our fellow expatriates often point out the need for maintaining the use of the Vietnamese language. We agree with them. But to really think about it, a child cannot be the fusion of two children (Vietnamese and Canadian, or Vietnamese and American.) If too much pressure is exerted, the children will not bear it. In addition, we have to make time for their other interests such as sports, music, etc… Therefore we must make intelligent choices and establish a proper balance to avoid transforming your children into “studying machines”. Your children will be making progressive achievements in this country. Help them be prepared and adapted to their environment in order to ensure a satisfactory quality of life.

The Western society — We live in a society of excessive consumption. Don’t let yourself be caught by skilful marketing techniques which encourage you to consume without control. Surrounded by wants and needs, we become the easy preys of publicity; at the same time we are being conditioned and influenced by the banks and the insurance companies. Practice this motto: “Minimize your wants, be content with little.” Buy only what you need. This rule is also applicable to the houses and cars you buy; these should be well within your means and should provide the security and the basic functionality needed in your daily life. That’s enough. Avoid too much debt. This will lead to a much better worry-free life. Please understand that our advice is not mere theory. Today’s society is slipping lower and lower in many moral and spiritual aspects. The reason, in our opinion, is that when people are so focused on the appearances, they become egoistic, attached to material possessions, and cannot find happiness anywhere. To be truly happy, one needs to be less selfish. One must think of fellow human beings and learn to share with others.

Your old parents — With old age comes illness, and then one day, the old and the sick must depart… for good! That’s the universal law of life! When this day arrives for us, please make sure that our funerals are solemn but simple. Burying us in a cemetery may pose some problems for you, should you be required in the future to move away for your work. It would be difficult and impractical to take care of our tombs in this city. We prefer the cremation solution, which is more practical and does not require our bodies to be entombed. We believe future generations will need the land more than us. You could disperse our ashes on the mountain, in a river, or even in the ocean. We will return to dust, that’s all! Instead of spending on a funeral reception, please save the money to contribute to some worthy causes of collective interest. Do not be concerned that you would be criticized for this untraditional funeral. In time, people will understand and will approve.

One more important point: if, by misfortune, we should be sick and require life support in a vegetative state, please have the courage to remove our artificial life support system. Why prolong such a state which can only be a major burden to everyone?

The family shrine — Given today’s limited living space, it is not very easy to install a family shrine at home. To keep the memory of your ancestors, of your grandparents, both paternal and maternal, and of your parents, you may display photographs in the most suitable place of your house to show your respect and to reaffirm your commitment to never dishonor your ancestral tradition. On the anniversary of our death, prepare a small table on which you will lay out a cup of pure water, some scented flowers, fresh fruits and an incense rod (an electric rod would do as well). This would be sufficient. It is the expression of your love and that of your children that would be most meaningful and valuable to us on that day. We did mention “your children” to point out the need to make sure they understand the significance that we, Vietnamese, ascribe to the celebration of the anniversary of death of members of the family. During these special days, concentrate on good thoughts, do a few more acts of kindness compared to other regular days, give charity to the poor, donate clothes or food to charitable organizations. On these occasions, it would be wonderful if all brothers and sisters get together to renew and strengthen our family bonds. Please make an effort to organize such family reunions.
We hope that you will read this letter carefully, that you will meditate on it and that you will try to carry out our recommendations.

We thank you all for having always taken good care of us for so many years, and to have done all that’s required so that we can enjoy our old age in serenity.

With much love to you all, our beloved children and grandchildren, and a thousand kisses.

Father and Mother

Washington CASH classes help Vietnamese entrepreneurs
Monday, June 27th, 2011

On July 20th, the Washington Community Alliance for Self-Help (C.A.S.H.) will be offering a business education and training class for the Vietnamese community in Seattle. The class is an introduction to some of the most important concepts in starting and running a small business, with a focus on what it means to be a small business owner, solidifying your business concept, examining the profitability of your business model, and developing a business plan.

Washington C.A.S.H. is a nonprofit organization whose goal is helping people become financially successful through small business ownership. Most of our members come from low-income situations and are looking to start a new business or develop an existing business into a profitable enterprise.

The course instructor, Quang H. Nguyen, has worked with small businesses in the Vietnamese community for more than a decade. He was the executive director for the Vietnamese American Economic Development Association (VAEDA) and the founder of the Washington Vietnamese American Chamber of Commerce (WAVA Chamber). His extensive experience with small businesses and economic development will provide helpful insights to would-be entrepreneurs.

The class will be held Monday and Wednesday evenings, from 6 p.m. to 9 p.m., from July 20th through August 3rd. While the course will be taught in English, the instructor is a Vietnamese speaker, and the materials will be offered in Vietnamese. Those interesting in learning more or signing up should call Quang at (206) 799-4804, or email him at Quang@washingtoncash.org.

WA State Vietnamese Coalition Organizes Protest Against China (English, Video)
Monday, June 20th, 2011

June 19, 2011: Over 500 Vietnamese Americans gathered to commemorate South Vietnamese Army Day. Afterward, 300 of them marched in an hour-long protest around Seattle’s Little Saigon district.

They called for China to give up claims over the Spratley and Paracel Islands in the East Pacific Sea, Bien-Dong (“South China Sea”). The Vietnamese Coalition of Washington State organized the events.

Video by Don Pham of Northwest Vietnamese News.

http://www.donaldpham.com
http://www.nvnorthwest.com

Tatsuo Nakata Youth Award: Mary Nguyen A lion for justice and equality
Tuesday, May 31st, 2011

LTS.- Cô Mary Nguyễn được giải Tatsuo Nakata của Tiếng Nói Cộng đồng của tuần báo International Examiner, tổ chức vào ngày 18 tháng 5 tại nhà hàng Tea Palace. Giải này dành cho những thanh niên có nhiều đóng góp cho “công lý và sự công bằng”. Cô Mary cũng là nhà tổ chức cộng đồng cho nghiệp đoàn lao động United Food and Commercial Workers Local 21.  Bài này tái bản từ báo International Examiner. (NVTB)

I first met Mary Le Nguyen in 2007 when she applied for an internship with the National Asian Pacific American Women’s Forum. During that interview, she exuded passion, curiosity, humility, and a dedication to social justice. From that moment, I knew that she would be doing something amazing for the community.

Mary will be awarded with the Tatsuo Nakata Youth Award at the International Examiner’s annual Community Voice Awards on May 18. Mary is a perfect fit for this award, named after a young man who demonstrated leadership in the API community before his untimely death in 2006.
Mary’s family came to the United States as Vietnamese refugees. She was the first person in her family born in the country and would often tell her siblings, “I’m the only one that can be president.”
The Nguyens were the last Vietnamese refugees to arrive in Washington in 1976. In fact, the Emmanuel Lutheran Church of Longview, WA petitioned U.S. Senators Henry Martin Jackson and Warren G. Magnuson and Governor Daniel J. Evans to allow one more refugee family to come to Washington. Thankfully, the lawmakers granted their entrance into the country. It was as if destiny knew that Mary would do amazing things for the community if the Nguyens were permitted to come to Washington.
Mary’s upbringing in the small logger town of Longview, Wash. created her foundation for justice and equality for communities of color. She was one of the few people of color in her cohort, but that did not prevent her from becoming engaged in school activities. Mary was on the volleyball and basketball teams, in student government, honor society, and voted “Best All Around” her senior year. Amidst all of this, she still longed to be part of a community that understood her and her desire for justice.
As an undergraduate student at the University of Washington-Bothell, Mary saw that there was not a lot of support for LGBTQ students. Instead of just complaining or wishing things were different, Mary stepped into action. She co-founded the university’s first Gay Straight Alliance.
Stepping into action is something that Mary does well. In 2010, the Board of Pharmacy threatened to limit patients’ access to medication by modifying a rule that requires pharmacies to give medications to people without discrimination or delay. Mary recognized the API community had to be heard, so she represented the NAPAWF-Seattle Chapter in a coalition of reproductive rights advocates and testified before the Board. The result? Mary’s action made a difference and patients’ access to medicine is protected.
At 30 years old, Mary has a number of milestones to be proud of. Completing her Masters of Policy Studies at the University of Washington-Bothell, fiercely leading the NAPAWF-Seattle Chapter, and working with Wal-Mart workers as a community organizer at the United Food and Commercial Workers Local 21 in their efforts to advocate for their rights are to name a few.
However, campaign successes cannot fill Mary’s heart like her family does. In the past year, Mary brought together her family in a very special way. Last fall, she purchased a home in Renton, where her parents, brother, and partner have created a home together. Her sisters are minutes away and the Le and Nguyen home is often filled with the laughter of children and conversations about peace and justice.
There is something about Mary that inspires all those who meet her. And it’s really easy to pinpoint. It could be her wit, her smile, her intelligence, or her commitment to her family and community. It is a combination of all her special qualities that make her an incredible daughter, sister, partner, friend, and leader.
Liezl Rebugio
Vietnamese American film “Touch” screens tonight at SIFF
Monday, May 23rd, 2011

Tam is a lovely and talented Vietnamese-American manicurist, but she has never been able to fully connect with the men she dates. After taking a new position at the V.I.P. Nails salon, she does well at her job but doesn’t seem to fit in with the other girls, who gossip endlessly and insult the clueless white customers in Vietnamese. One day, Brendan, a car mechanic, enters nervously and asks Tam for a manicure, explaining that his cold, workaholic wife shies away from his perpetually soiled and greasy hands. When the tactic pays off, Brendan returns each day for the same treatment, plus more advice from Tam about romance. Brendan’s love life steadily improves, but soon it becomes apparent that his “appointments” have more to do with seeing Tam than getting his hands clean. Meanwhile, Tam struggles to communicate with her stern father, who has been confined to a wheelchair after a tragic accident. Throughout the film, first-time director Minh Duc Nguyen explores the various ways human touch can be interpreted: as a weakness, as a comfort, as a threat, as a transgression, and finally as a method of healing and reconciliation.

Admiral Theatre
2343 California Avenue Southwest
Seattle, WA 98116-2402
May 23, 2011 6:30 PM

Director Minh Duc Nguyen and actors Porter Lynn and Melinda Bennett are scheduled to attend May 23 screening

Director Biography
Minh Duc Nguyen studied film at the University of Southern California, where he received the Jeffrey Jones Scholarship for excellence in screenwriting. Touch is his feature length directorial debut.

Watch the trailer: http://www.siff.net/festival/film/detail.aspx?id=44480&FID=206

The Bay Area- a Cultural Melting Pot: a Review of East Eats West by Andrew Lam
Tuesday, May 10th, 2011

When asked about the importance of the “gold boom” in California, one would most likely omit the effect it had on ethnic minorities- especially the Vietnamese living in the United States. However, in Andrew Lam’s most recent book- East Eats West (2010) the Bay area of San Francisco and it’s Vietnamese population serves as the setting for a cultural puzzle that was born during the gold rush. Stating that the ethnic diversity now engrained in the Bay has been “intensified by the volume of interactions and … globalization ,” Lam connects the past with the present and explains the context for the immigration patterns that led to the melting pot that San Francisco has become.

According to Lam, “the modern condition is messy ” but with a sincere and “fundamental respect for others’ histories .” This contemporary situation contrasts heavily to Lam’s experience as a child where, during the Cold War, he found his culture suppressed by his peers. Using the media form of Kung Fu movies as an acid test, Lam draws a portrait through time explaining how the American attitude to Oriental culture has remained flexible according to the prevailing socio-political trends. This fluid notion of cultural relations made for shifting sand as Lam learned how to adapt to his new home in the United States following his ejection from Vietnam as part of the wartime Diaspora.

As Lam explains during the book, a transformation of attitudes occurs in America after the end of the Cold War as Asian culture becomes highly valued and sought after. A variety of media including comic books and movies began to incorporate the Kung Fu fighting style in a wave of new interest and excitement. At the same time, Asian cuisine truly gained a foothold in the American market with Vietnamese and oriental restaurants stealing the show in terms of expanding industries in the Bay Area and all over the US. And so, for Lam the Bay Area is a microcosmic example of the American nation- albeit a more culturally diverse one, and also a fantastic example of cultural exchange at an accelerated rate. A mention of the presence of a specifically Vietnamese bus route used to transport people and goods for the benefit of the Vietnamese community serves as a great example of this trend.

Using specific examples from his personal history, Lam turns this cultural narrative into an informative biography of sorts. An eloquent discourse on his relationship with his family and how it changed when placed in the United States provides the reader with a great example of the way in which Confucian values of filial piety and loyalty contrast so strongly to the American values of self expression that many Vietnamese conservatives would consider “dishonorable .” This clash of beliefs causes culture shock for most first generation immigrants who are invited over to the United States, often through family connections. However for those without the money required to make the journey, an “Anchor Kid ” system is often developed where the Vietnamese family depend on the successful immigrant within their clan to send wealth back home. This system, of course, has Vietnam calling for the return of their new, more wealthy ex-nationals.

The importance and prevalence of family ties to the homeland within the Vietnamese community even began to acquire a name, according to Lam. Vuot bien was the term given to the commonplace act of leaving the homeland in search of outside opportunity. Interestingly, while the United States places a considerable level of blame on technology for social issues such as poor family communication and divorce rates, the Vietnamese could not be more grateful for the revolution. In a great piece of cultural analysis, Lam explains that the gold boom was followed by a technology rush in industries such as computer chips which allowed several astute Vietnamese businessmen to change their fortunes and make considerable wealth. In fact, a large amount of Lam’s book can be understood as a work of pride for the Viet Kieu community that he himself is a part of.

While the majority of the book has roots in the Bay Area where Lam now resides, another large part of his work deals with the Vietnamese situation and how in his mind, the “theme of hybridity is central to a global society .” A short yet descriptive essay on the origins of Pho in Vietnam educates the reader in Vietnamese local cuisine and how it has spread exponentially. In America itself, the soup is enjoying a flare in popularity; an example that Lam sees as central to his idea of cultural absorption and synthesis. However, while this synthesis is occurring, Lam endeavors to point out that the Vietnamese culture is not the only one causing influence in this relationship. In actuality the example of Pho can easily be balanced with the new found excitement within Asian countries regarding American foods. As such there is balance, and while the Vietnamese still command ties to their homeland, traditional values including their perception of self are not compromised.
As the book progresses it becomes obvious that, for Lam, writing is cathartic. An exquisitely conducted piece of prose awaits the reader in a short letter to an Iraqi refugee child. This letter truly reveals the impact of the Diaspora on Lam’s upbringing and identity. A connection between his past and that of the Iraqi child seems to draw the line between past and present and helps the reader put the book into a modern context. Vietnamese practical pessimism and cultural focus on the importance of history is emphasized in Lam’s description of his grandmother and her conversations with spirits. The melancholy attitude that pervades this mysterious and wise culture through Lam’s writing truly adds spiritual depth to this book. In keeping with this theme, Lam ends the book with a discussion of some much larger and often spiritual aspects of the Bay Area and its relationship with the Vietnamese community.

Len Dong has been a somewhat silent yet remnant cultural discipline for many years now in the United States, something that Lam sees as explaining the continuing ties to the homeland that many Vietnamese cherish. Furthermore, the spreading influence of Caodaism forms a large portion of the ending of the book, and for good reason . Lam is a relative of one of the prominent members of this religious tradition and sees the spread of its values and theories as a perfect example of religious globalization. In actuality, the religion itself is a hybridization of several theories about spiritual topics ranging from ancestor worship to lifestyle choices. One cannot help but deduce that in some way, the topic of Caodaism serves as a thematic example of the way in which the Vietnamese have infiltrated and diffused into the American culture. Adaptation and flexibility in the behaviors and instilled thought processes that many Vietnamese held before their re-enculturation was a necessary component of success. With such a large population of Viet Kieu now in the Bay Area and further East in the States, it is becoming obvious that resilience is an understatement and that a trend of persistence and innovation is actually the driving force behind Vietnamese individual, and community progress.

To end the book, Lam informs the reader correctly that the 1965 immigration act made it possible for many more Asians to move to America and work or study. At present, with global relations between America and Asia stretched due to 9/11 there are limits and restrictions placed that have made it less common for Vietnamese to enter the US for the purposes of studying. However, the number of people doing so is still sufficient enough to support a growing community that is contributing to the Bay Area and other economies very measurably. In an incredibly insightful ending to the book, Lam suggests the possibility that the information highway responsible for the movement of Asian peoples to America and the transfer of American culture back into Asia is a replacement for the ancient Silk Road that brought about the world’s first true source of global contact. While this is controversial, it is a great summary of Lam’s thesis that global ties are creating a truly diverse culture within all countries that share with each other. Afforded the gift of optimism by his education in American language, Lam declares this to be a confirmed positive effect and uses the rich setting of the Bay Area to explain how cultural diversity has brought about an ethnic utopia where all kinds of foods and customs can be seen in close proximity.

Matthew de Moraes
Guest contributor

36th Commemorative Anniversary of the Fall of Saigon in Tacoma
Saturday, April 30th, 2011

The Vietnamese Community of Tacoma organized an event to commemorate the 36th anniversary of the Fall of Saigon at Lincoln High School, attracting hundreds of Vietnamese and non-Vietnamese.

I Might Be Hawai’ian
Friday, April 8th, 2011

When I landed in Honolulu, Hawai’i to attend the Asian Adult Adoptee Gathering & Film Festival in October 2008, my first thought was that I wanted to see the beach. I like to think that when I was born a tropical hormone was injected into my blood stream, making me pine for salty water and cracked coconuts. When the #19 bus to the hotel district arrived, I heaved my two full backpacks onto my back and walked into the air conditioned cabin. Luckily, I got a window seat, so I could stare out at the scenery and take in everything I saw. As the bus wound through its elongated route, I marveled at the various people who boarded and exited the bus. I have a bad habit of staring, but hopefully I wasn’t too conspicuous when I watched the many faces of Hawai’i standing, or sitting, before me. Old and young, men and women, shuffled by and an odd feeling crept up behind my eyes making me suddenly wonder if I could very well be looking at one of my own blood relatives.

As mistaken as I could have been, it’s not a completely irrational suspicion. Being a mixed-race Vietnamese adoptee who was brought to America as an infant with very little identifying information has forced me to periodically reconsider my ethnic heritage.

In fact, it’s only recently that I’m acknowledging the real difficulty with accepting the presumptive and conclusive label of “Vietnamese/White” that appears on my Vietnamese passport. When I consider that Thai, Chinese, Filipino and Korean men, as well as Mien, Hmong and Montangard men, and even Native American and Latino American men, participated in combat operations and acted as support personnel during the Vietnam War, the “White” part of me starts to take a back seat. My naturally dark tan skin and curious indeterminate Asian facial features have started to point in many directions beyond the classic racial identifier, “White”.

Who knows. My mother could have been anything other than Vietnamese.

Sometimes I imagine my mother was a resident of Hawai’i who took a job as an administrative assistant at any one of the numerous American companies that contracted with the American military or the Republic of Vietnam. Possessing a sense of adventure or just being plain tired of the monotony of the same-ol’-same-ol’ on the island, she snatched up the opportunity to transfer to an office in Saigon for a year. In contrast to her White co-workers, my mother may have felt very comfortable in the humidity and hustle-and-bustle of brown people, living and dying as they had done for centuries. My mother could have very well dated a handsome Vietnamese man who had swept her off her feet with his natural cordiality and raucous laughter. It is just one of many possibilities.

Back at the conference, I participated on a mixed-race adoptee panel with four other people. Only after I returned home did it strike me that each of those people had been reunited with their first mothers, except for me. You might suspect that I felt twinges of envy over this fact, but I actually had quite the opposite reaction. When a couple of us met later on for lunch, I was fascinated with their tales about how their unique relationships with their first mothers developed and how these re-connections have been fostered (or not) over the years. The longer I listened to them tell me about the contradictory emotions and anticlimactic ambivalence that settled in between them and their mothers, the more I came to realize that I had resigned myself over the years to the near certainty that I would never come to know who my parents were. For me, it’s not a matter of giving up on some kind of hope of finding them, but rather a re-prioritization of goals in life that I want to achieve before time runs out on me.

The Vietnam War did strange things to people. In my case, it gave me life while possibly sentencing my parents to death. Its massive carnage and destruction also reduced any inclination in me to search for my parents or any hope of receiving credible information on them. At the same time, though, the war expanded the possibilities of my parents’ whereabouts and identities to near endless proportions.

So, I sat on that #19 bus, enjoying the wondrous sunshine, and made believe that a close relative of mine was staring right back at me.

By Kevin Minh Allen

Video: Seattle Pho-Natics visit Pho So 1
Thursday, April 7th, 2011

Update: This story was recently picked up in the Seattle Times Food & Wine section.

The Seattle Pho-Natics is a group of random friends and strangers from facebook who visit a different Pho place every month, in order to sample all the local flavors. Fitting enough, the first location that the group ever visited was “Pho So 1,″ Vietnamese for “Pho Number 1.”  Unfortunately, most of the attendants did not enjoy their experience.  That was then.  Since that time, “Pho So 1″ was bought out by new owners, who wanted a chance at redemption.  They contacted Sean Hoops, President of the Seattle Pho-Natics, and asked him for a second chance.  It appears that their efforts have paid off, and Hoops now considers “Pho So 1″ to be one of the best locations in Seattle.

This is my first real experience shooting video with my D7000, and it still takes some getting used to. Still, I had a lot of fun. The Pho there was good, and didn’t leave me feeling bloated with excessive the way that a lot of Pho places will.

The key to judging a good Pho place is whether the customers are there for the noodles, or if they’re there for the broth. Good broth takes time and money to produce, and if the customers don’t bother finishing it off, then the restaurant isn’t going to bother investing in it, because they would be throwing money down the drain. Good broth attracts good customers, and vice verse.  This is a group that clearly cares about broth.

One girl who visited Vietnam told me that in Vietnam, the Pho consists mainly of broth, with very little meat and noodles. Which makes sense, because rice and beef in Vietnam is very expensive, so people tend not to overindulge. I’m of the belief that Vietnamese people in America need to moderate their carbohydrate intake in order to more accurately replicate the health benefits of more traditional cuisine.  According to Gary Taubes, excessive carbohydrates causes the bodies to hold onto sodium, which may explain why sodium intake doesn’t become a problem for Asian immigrants until after they come to America.

I ordered a bowl with everything, drank up all the broth, and left behind about half the noodles. Next time, I’ll probably order half to start with. It’s a good way to help you evaluate the quality without getting distracted.

Video by Don Pham
http://www.donaldpham.com
http://writeonrice.nvnorthwest.com/2011/04/seattle-pho-natics-visit-pho-so-1/

Seattle Pho-Natics:
http://www.yelp.com/list/seattle-pho-natics-club-seattle
http://www.facebook.com/group.php?v=wall&gid=69791196545

Pho So 1:
1207 S Jackson St # 107
Seattle, WA 98144-2093
(206) 860-2824

Commentary: 520 tolling campaign overlooks ethnic media
Friday, March 18th, 2011

By Dr. Julie Pham

Recent information from the Seattle Times’ analysis of 2010 Census data indicates that the number of minorities has quickly risen on the Eastside over the past decade. Since 2000, in Bellevue alone, the minority population climbed 62 percent, and the non-whites now make up 41 percent of the general population.

The rise should not surprise anyone. Racially white Eastern European minority communities are also on the rise. Natasha Savage, president of the Eastern European American Chamber of Commerce, estimates that 13–15 percent of those on the Eastside include recent Easter European immigrants.
Despite the steady increase, many ethnic communities still lie outside the purview of communication campaigns that they help fund with their tax dollars. The campaign for 520 tolling, the Good to Go! program, exemplifies such an oversight.

Certainly, the Washington State Department of Transportation (WSDOT) tolling communications department means well. In the “Good to Go! Outreach and Marketing Elements,” there is a section on grassroots outreach, which states that the WSDOT should perform “outreach to minority and low-income organizations to use their communications channels to inform their constituents.”

The WSDOT communications office notes these efforts include sending informational material to community organizations, such as ethnic-based student groups at the University of Washington, religious institutions, cultural associations, and social service providers.

Volunteers or small staffs, however, run most of these organizations. Their priorities are unlikely to include informing their constituents about 520 tolling when many of them face more pressing concerns such as health care and social service cuts.

Asian Indians comprise one of two of the dominant Asian groups on the Eastside. Debadutta Dash, co-chair of Washington State India Trade Relations Action Committee, said “the lack of outreach [for creating an awareness] is certainly an issue for the Asian Indian community in the case of upcoming 520 tolling,” and cited 10 prominent Asian Indian organizations not contacted.

Interestingly, the 520 tolling campaign includes almost none of the dozens of ethnic media outlets whose mission is to serve as ‘communications channels’ to their communities.

WSDOT has budgeted for media buys. According to the “SR 520 Good to Go! Advertising Plan,” WSDOT plans to purchase $1,108,784 in ad campaigns in newspapers, TV, radio, and online resources.

Only $11,982 went to ethnic media — only one percent of the campaign.

WSDOT also made an interesting choice in deciding which ethnic communities to focus on, too. Good to Go! media buys only went to a single Spanish-language radio and a Spanish-language newspaper.

Surprisingly, the other dominant ethnic minority, the Chinese, in Bellevue (9 percent) and Redmond (6.5 percent) was not addressed. Twenty percent of Northwest Asian Weekly papers are distributed on the Eastside. Statewide, more than 70 percent of Chinese speak Chinese at home; 38 percent report they speak English less than very well. Nearly a dozen Chinese language newspapers are distributed locally to serve the community’s strong need for in-language news.

The major locally-based Chinese language news outlets, Seattle Chinese Post, Seattle Chinese Times, and AAT TV, reported they contacted WSDOT communications and their advertising agency last year, but received no response. Numerous other ethnic media outlets gave the same report.

The fact is that many ethnic communities rely on ethnic media, and they care about transportation.

The Vietnamese Friendship Association recently released a study showing that, after getting information through word-of-mouth, the Vietnamese, age 35 and above, rely more on Vietnamese-language media than English language media for social and economic resources. Nearly 70 percent expressed concern over transportation.

WSDOT would save money by investing more in informing communities with limited English proficiency about the 520 tolling now, rather than dealing with customer complaints and inquiries later.

With the electronic tolling ease, many of those who do not regularly access mainstream media or comprehend ads on billboards and buses will continue to use 520 without even understanding a toll exists. They will only find out when they receive a notice for bill for the toll in their mailbox.

This Friday, Janet Matkin of the WSDOT will visit with a group of local ethnic media to discuss how to improve outreach to ethnic communities. Everyone agrees they share the same goal: to ensure as many people as possible are ‘good to go’ when tolling on 520 starts. ♦

Julie Pham, PhD, is the managing editor of Northwest Vietnamese News and founder of Sea Beez, a capacity-building program for Seattle’s ethnic media.

From Tet in Seattle to Tet in Australia
Wednesday, February 16th, 2011

Singer Y Phuong, entertaining the audience of more than 30,000 in Bankstown, Sydney.

One of the main attractions @ the Australia festival Tet New year of the Cat is the live entertainment show! I thought it was cancelled this year because we couldn’t find the stage. However, through the night we found it hidden on the other side of the grounds. Due to the heavy storms on Friday (which caused flooding in many areas in Melbourne), the organisers decided to move the show undercover! Usually the stage is in the main part of the grounds and the audience can sit in the stadium. When we got to the entertainment area we found out the main act was the beautiful Vietnamese singer Y Phuong. She is from USA to Australia. She wore this sparkly gold dress that really lit up the stage. The crowd absolutely love her!! They sung along with her and cheered loudly after every song.

Source: Cherry Entertainment News

The 2000th Front Cover
Friday, February 11th, 2011

Former Seattle Times Reporter Carey Quan Gelernter wrote in an email to Northwest Vietnamese News: “A small Vietnamese newspaper that has survived 25 years, 2000 issues” that is indeed an amazing accomplishment. In 1989, I had the pleasure of meeting your parents and writing about their efforts to serve and bind a community by publishing Người Việt Tây Bắc/Northwest Vietnamese News. Now 22 years later, you are publishing your 2000th edition. At a time when so many newspapers are shrinking or folding, you have not just survived but thrived. May you continue to do so into the future!  Congratulations!”

A pdf version of the original article can be found here.

Từ 22 năm qua, khi Người Việt Tây Bắc kỷ niệm năm thứ 3 hiện diện trong cộng đồng, ký giả Carey Quan Gelernter đã được ủy nhiệm viết bài phóng sự về báo NVTB. 22 năm sau, người nữ ký giả này, nay không còn làm việc tại nhiệm sở cũ nữa tuy nhiên, nhớ lại bài báo năm xưa vẫn dành cho ban biên tập một ít cảm tưởng đầy xúc động: “‘Một tờ báo nhỏ, của Cộng Đồng Người gốc Việt tại Hoa Kỳ, đã tồn tại được sau 25 năm, với 2000 số báo đã phát hành: điều này nói lên một sứ mạng đã và đang hoàn thành thật tốt đẹp. Từ năm 1989, tôi đã có hân hạnh gặp cha mẹ của Julie Phạm, phỏng vấn để viết bài tường thuật (trên báo Seattle Times) về những nỗ lực đóng góp cho cộng đồng khi đeo đuổi và phục vụ qua tờ Người Việt Tây Bắc. Ngày hôm nay 22 năm sau bài viết đó, tôi được nhìn thấy tờ báo thứ 2,000 ấn hành bước sang năm thứ 25 trong lúc khắp nơi Hoa Kỳ và Thế Giới phải đóng cửa giảm người thế mà quý vị vẫn không những sống còn mà lại phát triển tiếp nối. Tôi ước mong sao sự phát triển đó luôn được tiếp nối hướng tới tương lai! Chúc Mừng!”

Vietnamese students overcome hurdles to study in America
Wednesday, February 16th, 2011

Within Seattle’s ethnically diverse population, 12,109 people identify as Vietnamese, according to the U.S. Census Bureau’s ACS Demographic and Housing Estimates for 2005-2009. This stacks up to slightly more than 2 percent of the city’s current population of just over 600,000. Nationally, according to the same estimates, the Vietnamese population makes up a mere one-half of 1 percent (.5 percent), and in some cities, like Martinsville, Ind., the Vietnamese population is nonexistent.

Martinsville is where Vietnamese exchange student Than Tran decided she would begin her studies in the United States. Now, Tran attends Seattle Central Community College and lives in Seattle, which she said could not be more different from her previous study-abroad location.

“Seattle seems to be very diverse and international,” Tran said. “Where I was staying last year, there were not many Asians. I was actually the only Asian in the high school.”

Tran is a Vietnamese exchange student studying for a second quarter at SCCC, and she said that her initial decision to study abroad was motivated by a lifelong interest in experiencing new cultures.

Tran said her mother, who remains in their hometown of Bien Hoa, Vietnam, has always encouraged her desire to travel the world.

“You learn many new things when you travel to different places,” Tran said, quoting her mother. “That is priceless.”

Tran said Seattle’s colorful composition was the main reason she chose to continue her studies here.
“I feel more confident here, not only because there are more international students,” Tran said, “but also the local people are very diverse and friendly.”

That, and she was attracted by one of Seattle’s flagship institutions.

“Seattle is the headquarters of Starbucks,” Tran said, “and I’ve been in love with Starbucks for a long time.”

According to Trysteen Thanh Binh Tran, an English professor at Green River and Tacoma community colleges, Seattle’s location on the Pacific Rim and proximity to Vietnam, as well as its expansive Vietnamese community, makes it an especially attractive location for Vietnamese exchange students.

“A 13-hour plane ride is a long distance to travel,” Trysteen Tran said, “yet it is closer than traveling to Texas or South Carolina.”

Difficulties with English can remain an obstacle for many Vietnamese exchange students.

“Sometimes I have to ask the native speakers to repeat what they just said to completely understand them,” Tran said. “Otherwise, I’m doing fine here in Seattle.”

Trysteen Tran, on the other hand, believes that some Vietnamese exchange students’ educations are negatively affected by the language barrier.

“Sometimes, I ask students if they have considered taking developmental English courses before taking English 101 and beyond,” Tran said. “But they feel that spending a quarter or two to take ESL classes is a misuse of time and money. Instead, they would rather take the harder courses, struggle through the entire quarter, and hope to pass through to the next level.”

Trysteen Tran said that many of the Vietnamese exchange students she comes in contact with are studying business or medicine-related fields.

“Almost all of them have plans to return home with their degree to continue the family business or to apply their knowledge into a career to help boost their nation’s economy,” Trysteen Tran said.

Khoa Pham, a Vietnamese exchange student studying for the second year at Green River Community College, said he plans to return to Vietnam after completing his education in computer science.

“I want to improve the infrastructure in Vietnam, because it is a developing country,” Pham said. “I want to gain the extreme knowledge here and go back to Vietnam to help my country.”

Pham, who was 16 when he arrived in Washington in 2009, has been participating in the High School Completion Plus program at Green River Community College, which will allow him to graduate this spring with a high school diploma as well as an associate degree.

He said the opportunity to simultaneously gain high school and college credit largely motivated his decision to study in Washington, but he chose this particular region to be closer to the many leading technology companies located in Seattle.

“Washington is the homeland of Boeing and Microsoft,” he said. “That’s why I chose this place to study.”

Pham said he plans to get his bachelor’s degree in computer science after he graduates this spring, which he will immediately follow with what he said will be at least a master’s degree.

“If I have the opportunity, I will get the highest possible degree,” he said.
Peter Moran, director of International Programs and Exchanges at the University of Washington, agreed that one factor possibly deterring students from studying in Seattle, and in the United States in general, is the high cost of living.

“It’s far more expensive here than if you were to live in, say, Saigon,” Moran said during a phone interview in late January.

Moran also attributed the UW’s small population of Vietnamese exchange students, which he said has been nonexistent in the last four or five years, to the lack of exchange agreements with Vietnamese universities.
“We don’t have any exchange-student relationships with Vietnam right now,” Moran said. “‘Exchange’ for us means international students who come from one of UW’s partner universities and study here on campus for between one and three quarters; that is, up to one academic year.”

Moran pointed out that categorizing Vietnamese students as “exchange students” is complicated at a four-year university like the University of Washington. While the UW does not have any Vietnamese “exchange students” at this time, that does not reflect the number of Vietnamese students currently studying at the UW.
The UW is indeed home to students from Vietnam, Moran said. According to the university’s International Student Services Office, the UW hosted 48 undergraduate and graduate students from Vietnam on its three campuses during the 2009-10 school year and during the current school year this number increased to 54 Vietnamese students.

According to Moran, these international students come to the UW to receive a bachelor’s or graduate degree and, because they enter through the international admissions process and not an exchange agreement, are not considered exchange students.

Moran said these exchange agreements are essential in setting up exchange programs for students.
“In order to have Vietnamese exchange students,” Moran said, “we would have to have formal relationships with Vietnamese universities. I know for certain there are plenty of connections between the UW faculty and faculty in Vietnam, but until now we haven’t had any student-exchange agreements that I am aware of.”

Moran said that some Vietnamese universities do not usually participate in exchange agreements because they interfere with students’ work, sending them away and putting their course of study on hold.

According to Kathie Kwilinski, executive director for International Programs at South Seattle Community College, SSCC has also struggled to develop a direct exchange program with Vietnamese universities.

“While South has developed some school partnerships in Denmark and Japan for true student exchange,” Kwilinski said, “we have not yet identified a partner for student exchange in Vietnam.”

International students travel to the states on F-1 student visas, Kwilinski said, and, because they are not participating in a direct exchange, they pay out-of-state tuition, which Kwilinksi said totals $2,790 per quarter.
The cost has not deterred Vietnamese students from studying at SSCC, however. According to Kwilinski, 99 of SSCC’s 330 international students this winter quarter are from Vietnam.

Kwilinski said that many international students start their education at SSCC in the Intensive English Program and then most move into one of the associate degree programs.

In her experience, she said, the many Vietnamese exchange students she has met over the years pursue a wide variety of academic and professional goals.

“From my meetings with students and parents,” Kwilinski said, “they are here to pursue their dream of higher education, American style. Their goals are usually as unique as each person.”

While universities in the United States are struggling to make connections with Vietnamese institutions and establish exchange programs, students like Pham and Tran will act as ambassadors for American education when they return to Vietnam.

“To students who are considering going to the United States for studying,” Tran said, “the States are a credible and great place. As long as you try your best, as long as you are ready to face the challenges, everything is possible.”

By ALLISON INT-HOUT
UW News Lab

My early connection to the Vietnamese community through NVTB
Friday, February 11th, 2011

Growing up, I never felt that I was really connected to the Vietnamese community in Seattle because whether it was in school or in extracurricular activities that I participated in, I was always one of the only Vietnamese students around. It wasn’t until my book launch at the University of Washington in 2009 that I realized that I was more connected to the Vietnamese community than I ever thought.

Prior to my book launch, my father, Do Van My, introduced me to Julie Pham, the Managing Editor for the Nguoi Viet Tay Bac. As Julie interviewed me for an article, she mentioned how grateful she was for all of my parents help with her family’s newspaper. At first I thought to myself “What did my parents do to help this well known and reputable Vietnamese newspaper?” As I took a second to think though, I slowly began to remember as a kid seeing my mom bring home stacks, and I mean STACKS, of Vietnamese newspapers every week to read and share with friends, as my father spent his time updating a website for some Vietnamese organization.

As I sat in this interview with Julie, I realized that the Vietnamese newspaper that my mom brought home and the website that my father was continuously updating was the Nguoi Viet Tay Bac.

After meeting with Julie, I laughed at myself as I walked to my car. Prior to the interview, I thought to myself that I was finally going to connect with the Vietnamese community once this article on me was published. After learning about my parents’ involvement with the most influential Vietnamese newspaper within the greater northwest, I realized that I have been connected with the Vietnamese community in Seattle my entire life.

As Nguoi Viet Tay Bac prepares to publish their 2000th edition, I would like to congratulate them on their success and to thank them for helping me feel connected to our Vietnamese community.

Hoan Do, author of “Succeeding in the Real World”

My Father’s Waterloo—Vietnam, Napoleon and Our Family Vacation
Wednesday, February 16th, 2011

In his new book East Eats West: Writing in Two Hemispheres from Heyday Books, New America Media editor Andrew Lam recalls teenage memories of how his father, once a South Vietnamese general, drove his family all over Belgium to find Waterloo, where his hero, Napoleon, faced defeat. This excerpt is reprinted with permission.

There’s a moment from many years ago that remains indelible on my mind. I don’t remember much on our way to Waterloo, except that the countryside was streaked and blurred, light green over darker green, all under a persistent gray sky.

Father drove. My older sister sat next to him and navigated, a map on her lap. I was 17 and pining to be back home with my first love, as I sat behind with Mother, who complained of a mild headache and wondered out loud why we needed to find this distant battlefield, and why we couldn’t go freshen up at our hotel after having just arrived in Belgium.

“It would be dark by the time we got to Waterloo had we gone to the hotel!” Father snapped. I didn’t have to turn to know Mother was rolling her eyes. If she had a choice she would not have been stuck in the backseat as we searched for some pasture where Napoleon was defeated long ago.

I thought I saw a sign in French. I said so to Father. Except it took me five minutes to do this. He cursed, calling me names in French. I responded in French, rather rudely, which surprised him, since I rarely spoke the language after we came to America.

I felt terrible afterwards, and the air in the car was tense. I remember thinking, were we still in the war and I his subordinate. Father, once a three-star general in the South Vietnamese army, no doubt would have me confined to the brig for whatever it was that I said.

On Vacation and Quarelling–American Style

But it was a half-dozen years since the Vietnam War ended, and we’d already turned into an American family on a European vacation, complete with a sulky teenager stuck in the backseat and his responsible but equally sullen sister stuck in front, while their quarreling parents kept at it.

We finally stopped and asked for directions. Father drove frantically after that. We arrived at Waterloo at last—and it was still bright out when he, my sister, and I rushed up the windswept knoll that overlooked the battlefield. Mother declined the climb and went to the shop to buy souvenirs, instead.

As we climbed, Father could barely hide his excitement. When we finally stood on top, almost out of breath, he began to narrate the story of the old battle. He pointed wildly: where Napoleon’s army stood, which direction the Prussian soldiers came from, and how the Duke of Wellington arrived with his Anglo-Allied forces to turn the tide, defeating Father’s favorite military tactician and ultimately exiling him to St. Helena, where he died a few years later.

“It rained before the battle,” he was saying. “It delayed Napoleon, you see. He wanted the ground to dry out a little before the attack.” Wellington’s army was positioned on Mt. St. Jean but they withstood repeated attacks. By nightfall they counterattacked and drove the French from the field. Then the Prussians broke through Napoleon’s right flank as his army was pulling back. There were heavy losses on all sides.

I already knew the story. I also knew that Father was, in part, trying to make up for cursing at me by telling the old story. It occurred to me later that never once had Father told any of his children a fairy tale, and that most likely he remembered none. But this story of a long-ago battle he had told many times, turning our dining room table into the battlefield, our spoons and chopsticks into battalions, bowls into hills. The Duke of Wellington was drunk. Napoleon was not. But there was nothing he could do, was there, against fate?

My father was second in command at I Corps near the end of the war. He was fighting at the DMZ [demilitarized zone] and nearly lost his life but managed to escape back to Saigon. He boarded a naval ship on the day Saigon fell and headed for Guam. After four years in America, in a remarkable feat, he had remade himself, at age 46, into a bank executive.

The Life They Lost in Vietnam

Yet Father’s passion remains extraterritorial. Life in America turned out to be, for him and for my mother, a big letdown, a reality defined by disappointment and a deep sense of loss. They would never have in America what had been taken from them in Vietnam.

For years their biography of sorts was on display on the mantel in the living room. In one photo, Father is emerging from his helicopter, silver baton in his left hand, his right reaching out to a young army officer who stands with hunched shoulders under the whirling rotor blades that send wind to press down on the elephant grass. In the distance are the silhouettes of bent-backed farmers in conical hats. Father’s face is dark and somber.

In another: Mother and Father. “A beautiful couple” would be understating it. She wears her multistranded gold-bead necklace over her lavender brocade. She looks stunning and regal. Father, on the thin side, is dignified and suave in a gray-silk suit, a cigarette in his hand. Behind them on the wall hang two Chinese brush paintings, one showing Chinese fairies on clouds, the other a ferocious dragon descending from a misty mountain.

Sometimes when I think of that picture I have a flashback to being a little boy, hiding inside Mother’s walk-in closet, the size of a small room, with windows opened and the breeze swaying the hundred or so painted and embroidered ao dai dresses and brocades. I can still smell the camphor and Mother’s perfume, Guerlain. I am lost amid the fabric.
From far away I hear my brother’s voice calling out: “Father’s home! Father’s home!”

None of the pictures show how it all ended. There are plenty of those online, under “Fall of Saigon” or “April 30, 1975,” “Vietnam evacuation,” “Evacuation+Saigon.” Tens of thousands of them. Many pictures show refugees in crowded cargo planes landing in the Philippines, and I suppose somewhere there are pictures of me and my mother and sister and two grandmothers emerging from one of those planes with small bags in our hands, looking very, very lost.

I remember much of the day we left: The wails of a woman, the smell of vomit, night turning into day then back into night, the humming of the plane’s engines, then we landed in Subic Bay. Then there’s another flight to Guam. Then green tents flapping in the wind, a scorching sun, a very long line for food, adults weeping and screaming as the BBC announces the fall of Saigon.

Father left after us, on a warship with hundreds of well-placed others, for the U.S. Navy base at Subic Bay and asylum. He folded away his army uniform, changed into a pair of jeans and a T-shirt, and tossed his gun into the sea.

After that, Vietnam, his defeat, his raison d’être, his crucible, was never far from his consciousness. The war, his role in it, have become for him the touchstone of his life. He knows wars, studies wars, has read countless books on battle strategies and warfare. And Napoleon is his hero.

Just 17, Homesick and In Love

After so many years of hearing about Napoleon, it should have been exciting seeing the place finally, yet that late summer afternoon I was no longer intrigued. I was homesick for California. I missed my lover terribly, my first love—our tender kisses, the smell of our sweat.

I kept replaying our visit to the beach, with the breeze carrying the smell of the ocean, how shy we both were, yet how inextricably drawn we were to one another, the orange-red sunset and an unfinished sand castle between us. All I could think of the entire trip was getting back to California to possess, to love.

This was why it had taken me a long time to process that we were going in the wrong direction. It was also why, while Father talked on, I was miles away. It was only when he himself stopped talking and looked to the far-off distance, to where I supposed Napoleon fled, that I turned to look too.

But I didn’t see anything resembling a battlefield. What I saw was a thin gray mist drifting lazily over a green pasture below, and in the cold air I smelled a musky odor of newly upturned earth. The pastoral scene at twilight stirred in me no martial passion, but instead poetry, and an unspeakable yearning.

Father talked on. His hair was tussled by the wind, his face contemplative. As I watched him, the image came to me suddenly of him on that naval ship near the Philippines. The government of the Philippines wouldn’t let the South Vietnamese ship dock unless all personnel turned in their arms. I imagined him, his face creased with contemplation as he stared at his gun for some time before tossing it into the churning sea below.

Something, a welling, a sharp pain, rose suddenly within me then, and it surprised me that I hadn’t felt anything like it before, and it felt close to pity. It lodged in my throat and it took some effort not to cry out loud.

There on the wind-blown hill, with the statue of a lion on a pedestal above us as a memorial for all fallen soldiers, Father seemed so utterly alone. Then suddenly, so was I. Frightened and full of my own inarticulate longings, I had to look away for fear that Father might see tears brim in my eyes and think that I, too, was mourning for Napoleon’s defeat.

Was it not then that my life turned? Was it not then that I, still owned by a collective sense of loss, nevertheless took some profound step out from under his shadow?

I went on to college in the fall, in any case, and then, after bouts of bickering with my parents, on to my writing life, following my own passion. I’ve been to Europe a few times since then, to Amsterdam and even to Brussels, and although I’d think about it, even entertain the idea, not once did I feel compelled to visit that old battlefield again.

JULIE PHAM: To our dedicated readers
Tuesday, February 15th, 2011

Welcome to the 2000th issue of Người Việt Tây Bắc.

Over the past 25 years, we have never missed a single issue. Our hard-working staff has persisted through snow storms, holidays, and major computer failure. And one generation later, we are still here. It is because of you, for you, that we continue to publish our newspaper. Without you, we would not have been able to come this far.

My parents founded Người Việt Tây Bắc, in a small office in Columbia City, in 1986. Now, my two younger brothers and I work at the newspaper, side-by-side our parents and our extended “family” of NVTB staff.

With the challenges the newspaper industry currently faces, it is not an easy business to be in. And yet throughout the week, our readers reward us with their smiles when they come to our office to pick up their copy of the newspaper.

Despite these challenges, we continue to grow. In the past two years alone, we have expanded our news coverage to over a hundred TV news reports for SBTN-Seattle, launched our online version, our Facebook page, an English language series, and become a focal point for ethnic media advocacy in Seattle.

We have been able to do this with an amazing team of people dedicated to making Người Việt Tây Bắc great. Those have been with us for years: Mỹ Đỗ, Hóa Nguyễn, KhoaNguyễn, Bảo Phạm, Đông Phương Lê. We are grateful to our loyal advertisers, many of whom have been advertising with us since they opened their businesses.

The newspaper has been fortunate to be reinvigorated with young contributors and a community that has nourished us. We thank Quỳnh Dao Trần and Eitan Nguyen for making our newspaper more beautiful. Phong Đặng, Hải Yến, Bảo Nguyễn, and Thế Anh Nguyễn have shared their stories. Vũ Le and Vi-văn Đanh are part of the extended NVTB family through SBTN-Seattle. Non-Vietnamese companies such as PqHost, Count on That, Comcast Spotlight, and Felix Connection have helped us grow our business.

Our newspaper has kept pace with the growth of the local Vietnamese community.

In preparing for this special edition, we asked our supporters to share their stories of the past 25 years of the local Vietnamese community.

We hope you enjoy this trip down memory lane.

STACY NGUYEN: NW Asian Weekly Editor to NVN Editor
Tuesday, February 15th, 2011

I’ve known Người Việt Tây Bắc for much longer than I have been in news. I grew up watching my parents bother restaurant employees, asking them for a copy of the newspaper. They’d share pages and would read it during lunch. If they could, they’d leave with the paper.
Người Việt Tây Bắc became important to me when I was in college, when I was trying to improve my spoken Vietnamese and learn how to read and write. My teacher told us that one of the best ways to learn was to read the newspaper, so I read NVTB.
It was as a newspaper editor that I first met the great people behind Nguoi Viet Tay Bac. Editor Kim Pham sent me an email inviting me to an event the paper was organizing. I eagerly wrote back, feeling like I was talking to a celebrity.
My relationship with Người Việt Tây Bắc began as something sentimental, but these days I have a new perspective. I see it as a formidable voice in community news. It distinguishes itself from others because it cares, it’s smart, and it values the opinions and capabilities of its readers.

Mukilteo artist’s paintings traveling in exhibit, Thu Nguyen
Friday, February 4th, 2011

In one of Thu Nguyen’s paintings, a woman is standing alone by a window. In
another, that same woman is browsing real-estate ads; in another, she is playing
with her baby; in yet another, the woman is wrapped up in sheets, dreaming.

Nguyen, a Mukilteo artist, has but one model she uses for her paintings – herself.
Her self portraits are now showing in the Arkansas Women to Watch traveling
exhibition. Nguyen recently moved from Arkansas to Mukilteo.

The 2011 Arkansas Women To Watch exhibit is sponsored by the Arkansas Committee of
the National Museum of Women in the Arts (NMWA). The exhibition is traveling across
Arkansas until March 19.

The exhibit shows artwork by women artists who were considered for the NMWA’s
biennial Women to Watch series. Seven women – including Nguyen – were selected to
represent the state of Arkansas.

“What I liked about her paintings is that they are of women doing very mundane
things women do every day, and she’s made them into quite extraordinary pieces,”
said Joey Halinski, exhibit coordinator. “It’s a light show.”

“She’s one of the few artists I’ve seen lately who is just absolutely great at what
she does,” she said. “She’s a very professional artist.”

Nguyen was notified by forwarded mail that she was to be highlighted in the
traveling exhibition.

“After I moved away, I was surprised that they tried to contact me in Arkansas,” she
said. “I was very flattered that they still consider me an Arkansas artist.”

Nguyen also oil paints landscapes and plantscapes – including scenes from Seattle’s
waterfront and the Ballard locks – but her current focus is an ongoing series of
figurative paintings of herself, five of which are showing in the traveling
exhibition.

The series was inspired by New York photographer Cindy Sherman, who turns the camera
on herself.

With the series, she hopes to explore how her varying emotional states, which range
from defiance to despair, can be captured in paintings of herself.

By using herself as her only subject, she said she intends to go beyond the
superficial variety of art in which different models are painted in the same way,
and instead explore how a variety of emotional responses can be generated using the
same subject with different poses, lighting and environments.

“I love painting because it gives me great enjoyment,” she said. “ I lose myself in
time, and the day-to-day worries just vanish… and when I have completed a painting
I feel like a part of me will be remain when I am gone.”

She poses herself in front of a mirror to paint herself, sometimes using several
mirrors or a camera to capture the angles she can’t see. She first draws her
portrait, and then paints it, going back and forth from mirror to canvas, holding
her image in her memory.

Nguyen said capturing just the right angle and just the right light in her paintings
is very difficult – so she needs to try over and over again.

However, she said painting herself is easier than trying to find a model willing to
sit with her for long periods of time, painting after painting. Nguyen paints about
six portraits a year, spending about two months on each painting.

“A lot of people don’t have enough patience for that and, for me, it feels natural,”
she said. “I can sit in front of the mirror and paint whenever I feel like it, day
or night. I don’t have to be limited to anything.”

Nguyen is originally from Saigon, Vietnam. She spent much of her childhood making
quilts, doll clothes and painting because she was too shy to play with other
children.

In 1975, as communists were invading Saigon, Nguyen, her brother and sister
mistakenly escaped from Vietnam with their uncle in a boat – separating them from
their family. They were rescued by a merchant ship and were the first group of
Vietnamese refugees to arrive in Hong Kong.

After living for a year as an orphan in Hong Kong, Nguyen immigrated to the United
States.

Since then, she has moved from state to state, city to city, including Los Angeles –
where she had a stint in Hollywood as an actress and fashion model – Cabot, Ark.,
and now Mukilteo.

As a result, her art is shown in many public and private collections, coast to coast.

In addition to the traveling exhibition, Nguyen’s art is also showing at the
Fountainhead Gallery in Seattle. The gallery is open Thursdays and Fridays from 11-6
p.m., Saturdays and Sundays noon-5 p.m. and is at 625 West McGraw St., Seattle.

Nguyen has a painting degree from California State University, and is a member of
Oil Painters of America.

-Sara Bruestle
Published by Mukilteo Beacon newspaper on Wed, Feb 2, 2011
http://www.mukilteobeacon.com/community/article.exm/2011-02-02_mukilteo_artist_s_paintings_traveling_in_exhibit

Only the Best for His Father Trusting Thai Doctors to Treat His Father’s Heart Condition
Monday, January 24th, 2011

Mr. Hai Phan is confident his 78-year old father, Luan Van, is in good hands – getting the attention he needs for a serious heart condition. Mr. Phan lives in Boston; his father lives in Vietnam, where he owns a rubber company called Bin Phuoc Rubber. “The hospital Bumrungrad has given my father great treatment,” said Mr. Phan.

Mr. Phan pays out of pocket to send his father from Vietnam to Bumrungrad International hospital in Bangkok, Thailand for treatment, after Luan Van suffered a heart attack and three clogged vessels needed close attention. Mr. Phan didn’t trust Vietnamese hospitals to provide quality care that was clean, safe and timely.

“I was introduced to the hospital through a friend in Germany who also had a relative who was treated at Bumrungrad,” Mr. Phan said. Many of Bumrungrad’s doctors have practiced in the U.S. and were educated there; Mr. Phan was also comforted by the information he found on the hospital’s web site. “Online, I can see the biography and activity of the hospital, and the reviews by the patients, and how people from all over the world, even places in China, come to get treated.”

Traveling for health care is happening more and more, fueling an industry known in the U.S. as “medical tourism”. Because health care is so expensive in the U.S., patients are researching hospitals like world famous Bumrungrad International in Thailand, St. Luke’s Medical Center in the Philippines, Apollo Hospitals Chennai in India, and others in South Africa, Brazil, and Mexico to save money and get quality care. Many medical travelers are immigrants and their family members, who combine visits to the home country with visits to the doctor.

“There is usually no waiting period, allowing patients to fly in and have the surgery done the next day in most cases. Most hospitals also have impressive hospitality staff and a more personalized service,” according to discovermedicaltourism.com, which describes itself as a community web site to educate people about medical tourism. A Deloitte report found that, by 2017, more than 23 million Americans could be traveling offshore to seek health care services. Despite all of this, at this point, many hesitate, worried about things like language barriers.

Mr. Phan was comfortable sending his father to Bumrungrad. He explained, “There are over 600 doctors, most of whom are fluent in English, and there are even Vietnamese employees. There are English translators and Vietnamese translators. I think there are about a bit over 1% of the total patient base are Vietnamese. Even at the Bangkok airport, the hospital Bumrungrad also has a contact point for clients from far and wide, so that they can get an emergency vehicle or a van to take them to their hotel, as long as they spend at least $250 in treatment.”

Curiosity About Cost Savings

Mr. Phan came to the U.S. in 1981, so initially, he thought of flying his father to the East Coast for treatment at JFK Medical Center in New Jersey. However, he was told that he would have to sign a cashier’s check of $250,000 to prepare him for treatment there. Mr. Phan was also worried about visa clearance for the visit.

By sending his father to Bangkok’s Bumrungrad, Mr. Phan paid $30,000 instead. The hospital’s financial department told him that every patient starts with a 20% deposit and pays the balance when treatment is finished. The buzz about cost savings, and the uncertainty of U.S. health care reform, has many Americans asking a lot of questions.

Knowing this, governments are getting involved in the promotion of medical tourism in the U.S. One of the key selling points is the transparency of cost; it’s common for overseas hospitals to be specific about costs in advance, which are almost always a small fraction of what the same procedure would cost in America. Curious to learn how other countries and hospitals have been successful in providing care to the masses, a U.S. congressional delegation just returned from touring Bumrungrad. Also, the Korean government has been very aggressive in marketing its health care system to U.S. patients, often sending teams of hospital representatives to various U.S. health events to sell its services.

An Eye on Quality
Aware of the increasing American interest in traveling for health care, and concerned about misinformation, a Florida-based organization, the Medical Tourism Association (MTA), has positioned itself as an educational watchdog. The MTA just released the results of a survey in May 2010, based on the experiences of American patients at Bumrungrad:

• 93% rated the hospital as “very good” or “excellent”
• 80% felt their health care was more personalized than in the US
• 82% would recommend to friends, family and acquaintances that they also travel for medical care
• 88% said they would travel internationally again for care

More than half of the patients surveyed rated their experience better than it would have been in the U.S. and felt “very safe”.


A Standard of Service and Amenities

Mr. Phan felt the same way when he accompanied his father to Bumrungrad this past summer. “This hospital has a team of service people in three big buildings,” he said. “The emergency room and all the examination rooms are international standard, along with the dental, the drug center and the pharmacy. There is the cafeteria, the restaurant and all the places to rest that have a contract with the hospital and a lot of people say that it’s like going on a vacation to get your treatment. It’s like recuperating, resting, and traveling.”

Ken Mays, the West Coast expatriate who lives in Bangkok and serves as Bumrungrad’s Director of Marketing and Business Development says, “We also have a one-to-one nurse ratio for ICUs and critical care; for general wards the ratio is one-to-2.6.”

What’s Next for U.S. Citizens?

If U.S. health care reform does not deliver on its promises, will offshore health care systems see a boost in patient numbers? Will people open up to the idea of flying for elective surgery or routine physicals? And, even if reform does succeed, will more people accessing the system mean a decline in quality? Longer wait times? Although it is too early to tell, reform forces all residents to rethink what we expect of our health care system. The success of medical tourism, even if one chooses never to travel, may at least help us take a specific look at costs, care and the experiences of those we trust to choose what’s best for our lives and our families.

Julie Pham

Vietnamese discuss the Death with Dignity law in Washington
Tuesday, December 14th, 2010

At one of the luncheons held twice a week for the Vietnamese Senior Association in Seattle, 75-year-old Marie Thu Le came up to me and said, “I heard you’re writing about end of life. I want to share my opinion on that. When my time comes, I don’t want to be dependent on machines. I don’t want to be in a nursing home.”

I was surprised by her candor, especially when I found out she considers herself a devout Catholic.

Like many Vietnamese seniors I have discussed end of life issues with, Marie Thu Le has thought carefully about end-of-life issues.

This conversation took place at the largest Vietnamese Senior Association meeting in Seattle, with regular lunchtime gatherings on Tuesdays and Fridays. The seniors come to eat a traditional Vietnamese lunch, ballroom dance, play chess and ping pong, and meet up with friends.

Sometimes there are doctors from a local hospital  who come by to talk about the ‘Five Wishes’ so that they can begin preparing for end of life issues.

Phuong Mai Vo, 60 years old, has volunteered at the senior center for three years.

“They talk about death often here. They talk about preparing for it,” Phuong Mai Vo said.

What the seniors don’t talk about is Washington’s new Death with Dignity Act.

The Death with Dignity Act was passed in the fall of 2008, when 58% of Washingtonians voted for it and it became law on March 5, 2009. At the time, Washington was the second state to have passed that law, Oregon being the first. Since then, Montana has also passed a Death with Dignity Act.

The Washington law states:

This measure would permit terminally ill, competent, adult Washington residents medically predicted to die within six months to request and self-administer lethal medication prescribed by a physician. The measure requires two oral and one written request, two physicians to diagnose the patient and determine the patient is competent, a waiting period, and physician verification of an informed patient decision. Physicians, patients and others acting in good faith compliance would have criminal and civil immunity.

These Vietnamese are not talking about it because most of them have never heard of it.

When I asked Marie Thu Le of her opinion on the new law, she said, “I’ve never heard of it. It wasn’t until you just told me that I am now aware of it.”

“Many of us don’t know about this law,” said My Dung Tran. “I think people should know about it now.”

This was a common answer in response to questioning on the new Death with Dignity Act.

Limited knowledge

There are large linguistically isolated, ethnic communities such as the Vietnamese, Latinos, and Somalis who are in danger for not knowing their legal options. For immigrant elders in the United States, they face the greatest linguistic isolation because they come at a much later age in life, making learning English particularly challenging.

According to the 2008 American Community Survey, over 50 percent of Vietnamese in Washington report they speak “English less than very well.” Of the 72,000 Vietnamese living in Washington, 12 percent are 65 years old or older.

These Vietnamese turn to their local in-language press, to religious institutions, and to their social networks to be informed on local issues. But the local Vietnamese press did not address the initiative in the fall 2008.

Although Vietnamese are familiar with the concept of advance directives and durable power of attorney, many do not know about the passage of the Death with Dignity Act. Vietnamese generally refer to it as the right to “choose to die early.”

When I began to discuss Death with Dignity with the seniors at the Vietnamese Senior Association, most of them were open about their feelings, like Marie Thu Le.

Those Vietnamese in the health profession I interviewed said they almost never openly talk about the Death with Dignity Act.

Phi Khanh Nguyen, a medical interpreter who serves the Vietnamese in the Olympia area, said that he himself doesn’t know much about the law and “most Vietnamese do not know about it either.”

“Loan”, a cultural liaison with Harborview Medical Center in Seattle, said she has never discussed the law with an elderly person nor has she ever “heard a doctor bring this up.”

“I’ve only ever spoken about this issue with colleagues and with younger people,” said one Vietnamese nurse “Yen” who often consults with Vietnamese seniors about palliative care. “If I brought this up, I would be the subject of ridicule. It’s fun to debate this issue with my colleagues, but not within the Vietnamese community.”

Only a very few Vietnamese have heard of this law before I interviewed them.

Khanh Nguyen, 74 years old, said he had heard about the Death with Dignity Act in Oregon in mainstream news when it passed in 1998. Washington’s law mirrors that of Oregon.

“Even before it passed in Washington, I had talked about this with my wife,” said Khanh Nguyen.  ‘If when my time comes and they don’t have that law in Washington, I want to go to Oregon.”

Khanh Nguyen said he knows of some Vietnamese who are aware of the law, but they never openly discuss it.

“Someone might make a reference to it, but people don’t discuss it,” said Khanh Nguyen. “People don’t give out a reaction one way or another.”

Fear of pain and being a burden

Most of the Vietnamese interviewed said they feared ‘being put on a machine,’ ‘being a burden to my family,’ and ‘wasting government money.’

“When I’m near death, I would just like to be dead already,” said Tam Hue, a 73 year old in Seattle. “I don’t want to burden the living.”

Many Vietnamese see state-sponsored hospice care as a drain on government resources.

According to Lisa Butler, Director of Public Policy/Outreach at the Washington State Hospice and Palliative Care Organization, Medicare Hospice does “fully reimburse hospice providers for the care that they receive in a flat daily reimbursement (per diem) that covers all expenses “related to the terminal illness.”

“[Hospice care] actually saves the State costs that they would normally incur through a “fee for service” arrangement for the patient’s medical care and expenses, especially since it is a flat daily rate for all of the patient’s costs “related to the terminal illness,” wrote Butler in an email.

Although hospice care may be less expensive than hospitalization, some Vietnamese are concerned about the costs of providing any kind of life support at all.

“Vietnamese are naturally thrifty,” said Phi Khanh Nguyen. “They don’t want to see resources go to waste.”

All of the Vietnamese interviewed mentioned, often before being asked, the expense of hospice care.

Thi Nguyen is an 83-year-old who strongly objects to the Death with Dignity because of her Catholicism.

“The priests say that even though it costs the state a lot of money to keep us alive, by God’s law, we do not have the right to choose to die earlier,” said Thi Nguyen. “God tells us we can’t take away our own lives, not even if we know we’ll die the next year.”

More and more Vietnamese are becoming more used to the idea of hospice care.

Yen said that in her 14 years of experience, she has seen the number of Vietnamese turning to hospice care increase, because “they are beginning to understand what it is.”

At her organization, Yen serves many Asian elders. She thinks who presents these end-of-life options makes a difference in the person’s final decision making. She pointed out that many older Vietnamese have limited knowledge about pain management and said that they might choose an early death because they are unaware of the options.

“I see if a white person brings up hospice care with an Asian elder, the Asian will refuse the care,” Yen said. “I go in and talk about the options and I relate my own experience with my family in hospice care.”

An alternative to hospice care for Vietnamese not available too much of the general population is to spend one’s last days in Vietnam. Although exact statistics are unavailable, most of those interviewed talked about the general desire for Vietnamese elders to return to Vietnam, especially if they do not have strong family connections in the United States.

“Many people are afraid of being along, afraid of going to nursing homes where they will be alone. They rather go home to Vietnam, where they will be surrounded by loved ones or at least be able to communicate easily,” said My Dung Tran.

Since this interview, My Dung Tran has returned to Vietnam to take care of her elderly mother, who wants to die in Vietnam.

“I have seen elders return to Vietnam at all costs,” said Loan. “Many Vietnamese want to be buried in their homeland.”

“I want to return home when I’m closer to the end,” said Fung Xan (check notes for spelling). “I’ve been back several times since then.”

“It depends,” said Khan Cong Nguyen. “Anyone who has family here, who has been here for a long time, they would not be able to return. They are too used to the life here.”

A Voting issue

Tam Hue said that she had participated in Harborview Hospital’s presentation of the Five Wishes in 2007. Although she is healthy, she started to think about her end of life.

“I started thinking about it, after the workshop,” said Tam Hue. “Then I read about it in the voters’ pamphlet in the General Election in 2008. I found out they had it in Oregon and I thought, I want to have this right here.”

Tam Hue is rare among Vietnamese voters, who typically vote for the candidates only and overlook the voting literature. Vietnamese have one of the highest voter turnouts among Asian groups.

According to the National Asian American Survey taken before the 2008 Election, 74% of Vietnamese foreign born and likely voters would use in-language election materials. The average answer to that question among the five major Asian groups was 34%. Eighty percent of naturalized Vietnamese citizens were likely to vote in the 2008 election.

“I voted in that Election, and I don’t remember seeing it,” said Marie Thu Le.

“I vote every year, but I usually just vote for the candidates,” said Hay Nguyen. “This is the first time I’ve heard about this law.”

“I only vote for senators and presidents,” said Thi Nguyen, 82 years old. “People don’t have the level of understanding to vote for those other items. How am I supposed to understand that voter packet?”’

According to the CNN exit polls, 83 percent of those who voted in the 2008 election were white, 4% were African American, 7 percent Latino, and 3 percent were Asian. But in the final tally, the statistics for those minorities who voted on initiative 1000 were negligible and only the white vote was counted 57% for and 43% against.

Since the law has gone into effect in Washington, of the 47 people who have ended their lives as of March 2010, 98% percent were non-Hispanic whites.

The statistics in Oregon show that minorities have historically underutilized this option.

According to George Eighmey, the director of the Compassion & Choices in Oregon, from 1998 through 2009 there have been 460 Oregonians who died using a lethal dose of medication prescribed under Oregon’s aid-in-dying law.  Of those 460, 7 were Asian-American, 2 Hispanic, 1 Native-American, 1 African-American, and the remainder Caucasian.   These figures come from the Oregon Department of Human Services records.

From 1998 through today, Compassion & Choices have facilitated access to the law for 1517 Oregonians who died. Of that number 375 died taking the medication.  Of the 1517, 13 were Asian-American, 8 Hispanic, 7 African-American, 7 Bi-Racial, 6 Native-American and the remainder Caucasian.

Aside from linguistically isolated immigrants, these numbers do not reflect the sizeable populations of second, third, and fourth generations of Asians, Hispanics, and Africans living in the US.

Even the number of minorities volunteering to support either sides of the Death with Dignity is few.

Of the three staff members and 33 volunteers at Compassion & Choices, Eighemy said there are two Hispanics, one Asian, and one African American. Eighemy said they would most likely decline to speak with the press because ‘there are still people out there’, referring to the possibility of harm.

In Washington, the two major organizations that organized around I-1000 are Compassion & Choices, which supports the right to physician assisted suicide, and True Compassion, which refers to it as ‘assisted suicide.’

Robb Miller, director of Compassion & Choices, said, “The campaign started in 2007 and we did not concentrate on the ethnic minorities because we felt that we had to move the ‘moveable middle.”

This strategy was based on a survey conducted by Compassion & Choices in 2007. They did not target any ethnic groups in particular.

“Studies showed that it wasn’t going to be worthwhile to move people with strong religious affiliations,” said Miller. “We had to think about our investment of resources and we decided it wasn’t going to work to move them.’

Miller said he was not aware of the opposition’s efforts to recruit the votes of minorities either. He thought they also concluded that the number of votes to be gained by the minority populations would be insignificant.

“Also, many Hispanics do not vote,” said Miller.

The CNN exit poll for the 2008 election indicated 7 percent of voters were Latino.

Eileen Geller, the director of True Compassions, an anti-euthanasia organization, had worked to campaign against the original physician assisted suicide bill in 1991 and again in 2007-2008 as part of the Coalition against Assisted Suicide.

She said her organization “connected to get the ethnic and minority votes.”

Geller said that Eastern Washington voted overwhelming against the initiative in 1991 and that carried across the state to defeat the initiative back then. In the 2008 election, most of Eastern Washington voted no on the initiative.

Geller said the difference in campaign funding explains why the fight against physician-assisted suicide failed this time. In the 1991, the pro-campaign had twice as much funding as the coalition against physician-assisted suicide and five times as much in 2008.

“Many faith-based organizations volunteered to translate materials into Spanish and the Hispanic vote was instrumental in establishing a stronghold of anti physician assisted suicide in Eastern Washington,” said Geller. “I believe material has been translated into Tagolog in Vietnamese as well.”

George Eighemy at Compassion & Choices said it was clear that the “opposition campaign had mobilized the ethnic communities to get the vote” when the referendum was on the ballot in 1994. It had passed with a 51% to 49% margin.

Religion as a factor

The majority of Vietnamese in America are Buddhist, with a large and active Catholic minority. There are also growing Baptist and Cao Dai communities.

For many of the Vietnamese, religion was not a decisive factor in determining one’s support, or lack thereof, the Death with Dignity Act. They saw this as a personal decision.

Phi Khanh Nguyen said, “As a Catholic, I should be against this law. But I think people should have a choice.”

Dr. Thien Chan Quan, the directing monk at Nam Quang Temple in Portland said that he hasn’t met anyone to consult about this option or other end of life decisions.

“I believe that people should have the choice to opt for this,” Dr. Quan said. “However, I also believe that if unless someone is in incredible pain, it would be better to stay alive for those six months, because it would give them the opportunity to prepare and change their attitude for the next life.”

He pointed that “Buddhism allows for a choice, unlike in the Catholic church.”

Although she has heard her Catholic priests decry suicide, Thi Nguyen said she does not remember ever hearing about specific initiatives to make physician assisted suicide legal. She maintained that choosing to use the Death with Dignity Act was not an option.

“When people get old, and sick, they can only pray for comfort,” said Thi Nguyen.

Thai Quant Pham, 68 years old, is an active member in the Vietnamese Catholic community and he said he remembers his priests telling people to vote against the Imitative. Before the election, the Vietnamese Catholic Church of Washington made a proclamation to reject the Death with Dignity Act.

“The Catholic Church poured a lot of money into the campaign, and they reached out to Latino/Hispanic and Asian American communities,” said Eighemy. “The publisher of the Oregonian, who was Catholic, also vehemently opposed the referendum.”

Faith is not always a predictor of one’s voting patterns. According to a CNN exit poll of voters, 47 percent of Catholics and 49% of Protestants voted yes on I-1000.

Talking about End of Life

Although many of those I met are comfortable with discussing end-of-life issues, others are not. The Vietnamese have a saying, “If there’s water, then there’s a waterfall,” which means if there is a bit of life left, then there is life.

“There is a tension in the Vietnamese community in talking about one end of life,” said Yen. “Some people are very open about it, and they put a lot of planning into their funerals. Others…if you talk about hospice care, you’re basically accepting that you will die or you family member will die, that there is no hope. You’re labeled then, there’s a stigma attached to it.”

Although Khanh Cong Nguyen has talked about preparing for his end of life with his wife, he has yet to have the conversation with his children.

“But I haven’t talked to my children about it,” Khanh Nguyen added. “It’s not the right time. When the time comes, we’ll talk about it.”

Others have openly talked about it with their children.

Tam Hue said her seven children live scattered across three continents, Vietnam, the US and Australia. She said only her son in Vietnam did not agree with her decision to use the Death with Dignity Act, if she was terminally ill.

“My son said, ‘You can do what you want, but I think it’s weird’,” said Tam Hue.

When Marie Le talked to her children about her advance directive to stop her life if only machines were supporting her, she said, “My children all said, ‘Mom, you do what you think is best. This is probably for the best’.”

It is easier for families if the elder can issue an advance directive because no one wants to the one who makes that decision.

“Children are afraid they will be stigmatized in the community, for not having filial piety,” said Khanh Cong Nguyen.

Regardless of whether Vietnamese elders would take the option—the statistics in Oregon on Asians who used the law suggest they would not—there was a general consensus that they should be informed about all of their rights.

After our discussion, Tam Hue said, “I’m going to talk to the coordinator for the Five Wishes program. I think it needs to address the Death with Dignity Act as well. People need to know they have a choice.”

Julie Pham wrote this as part of a New America Media Fellowship sponsored by the Atlantic Philanthropies.

Plans for a second Chinese gate in the ID are causing concern
Tuesday, December 14th, 2010

There isn’t anything particularly unique about South King Street in the International District. Empty lots, restaurants and various other businesses line the street that serves as the heart of Chinatown in Seattle.

But two years ago, after nearly a decade of planning and work, part of Chinatown got a makeover when Seattle’s first historic Chinese gate was completed in the neighborhood.
Now, efforts are under way to install a second Chinese gate in the neighborhood farther east on South King Street. The proposed locations, however, have brought up concerns in the surrounding communities about whether or not neighborhood boundaries are being respected.

The Historic China Gate Foundation – a group of business leaders in the International District – came together in 1999 with the hopes of completing two traditional Chinese gates to serve as landmarks in Chinatown. The goal of the project was to improve not only the aesthetic of the area, but to promote the prominence and contribution of the Chinese community in Seattle. After nearly a decade of work and hundreds of thousands of dollars of fundraising, the first gate was completed in 2008 on South King Street near Fifth Avenue South.

Members of the Historic Gate Foundation say that planning for the second gate is still in preliminary phases and no location has been selected yet. However, two locations are being considered: One is at Eighth Avenue South and South King Street, just west of I-5, and the other is at Twelfth Avenue South and South King Street, which is technically in Little Saigon, a Vietnamese neighborhood. The proposal of this second location in Little Saigon, while not set in stone, has some members of the Vietnamese community upset about the perceived lack of communication in the planning process.
Quang Nguyen, a board member of the Washington Vietnamese American Chamber of Commerce, said he first heard about the proposed location in Little Saigon through word of mouth about three months ago.
“Somebody said to me, ‘Hey, did you know they’re planning to put another gate up at Twelfth and King?’” Nguyen recalled. “When I realized where it was, I immediately thought it was absolutely the wrong place to put the gate.”

Quang, along with others in the Vietnamese community, feel that Twelfth Avenue South and South King Street would be the wrong place to put the gate because it is essentially in the heart of Little Saigon, and two blocks east of the dividing boundary provided by I-5.
Tuck Eng, president of the Historic Gate foundation and lifelong resident of Seattle, is well aware of the boundary issue. In fact, Eng and the other eight members of the Historic Gate Foundation say that their ideal location for the gate would be at Eighth Avenue South and South King Street, just a few blocks over, but there’s a problem. The business and property owners adjacent to that intersection have not given their approval for the project, whereas over at Twelfth Avenue South, the property owners have said they would have no complaints. Despite the intersection of Twelfth Avenue South and South King Street being in Little Saigon, the property owners there are Chinese.

Just a few blocks west over at Eighth Avenue South sit the Four Seas Restaurant and Wing Luke Museum. Eng said he has approached the property owners at those locations several times during the past six months, but they have not given him their consent to move forward because they say they may want to further develop the property in the future and worry that a large monument across the street may impede their ability to do so.
One important thing has changed, however, since the last gate was planned that could allow Eng to bypass the property owners. This would require Eng and the rest of the board to go straight to the city’s Department of Neighborhoods to make a recommendation to the Seattle City Council – a move that may be more political than Eng had originally anticipated, but necessary to avoid conflict with Vietnamese community members in Little Saigon.

A COMPLICATED PROCESS

When the Historic Gate Foundation set out on their mission to complete the two gates in Chinatown more than a decade ago, they were paving the way in setting policy for improving the International District.

“We were pioneers,” Eng recalled of the process to get funding and approval for the gate through the city. “They really didn’t know what to do with us.”

The Historic Gate Foundation underwent a complicated seven-year process of raising funds and obtaining permits. Even now, after the first gate has been completed, the foundation has had to continue to fundraise to pay to maintain the gate and cover insurance costs. The city refused to accept the gate as a gift due to the liability and maintenance costs. The cost to the Historic Gate Foundation is just under $10,000 a year with an additional $50,000 kept on retainer in case the gate should be abandoned and need to be torn down by the city.

This has not dissuaded the Foundation, though, as it held its first fundraiser event at the end of October, raising about $20,000 to handle these costs as they move forward in finding seed money for the second gate.

However, since Eng and the other members of the board played the roles of pioneers in the process for street improvement the first time around, they may find the process this time to be more involved since the city has had time to formulate a strategy for such improvements.

“There’s a whole new process for street improvement permits and how those are coordinated,” said Angela Steele of the Seattle Department of Transportation (SDOT) via a phone interview earlier this month.

This new process involves applying for a street improvement permit, creating an environmental impact statement and getting recommendations from the Seattle Design Commission all before SDOT drafts a resolution that would have to go through more final reviews before being put up for public comment.

“I don’t think the first gate went through this level of detail,” said Steele, who had only learned of plans to put in a second gate earlier this month.

Steele said if the Historic Gate Foundation went through all of these steps, then the adjacent property owner approval would not be required and that the property owners on their own would not have veto power over the project.

However, Steele noted that the Foundation would “definitely need certificate approval from the International District Review Board, who would consider the businesses individually.”

Eng is anticipating that the Review Board and Department of Neighborhoods will not approve the plan unless adjacent property owner approval is procured.

“That’s the neighborhood’s discretion,” Eng explained by phone earlier this month. “The last time, you had to at least get the owners to approve.”

However, even though Eng says this is the process they had to go through the first time, city officials maintain that Eng and the rest of the Historic Gate Foundation do not need approval from the property owners to move forward – they simply have to get approval from the International Special Review Board. The International Special Review Board will likely take neighborhood sentiment into consideration, but does not require property owner approval. This makes Eng’s and the Historic Gate Foundation’s reasoning for looking past the intersection of Eighth Avenue South and South King Street basically null.

Rebecca Friested of the Department of Neighborhoods confirmed this last week.

“There is no language in the land use code that addresses property owner consent,” Friested said. “The Department of Neighborhoods doesn’t have any authority to waive that requirement.”

The Historic Gate Foundation will need to meet with the International Special Review Board before it can go any further with planning a location for the gate.

MOVING FORWARD WITH A PLAN

While the second gate is still in its conceptual phases and is a long way from even being started, Nguyen says it is still important for the Historic Gate Foundation to involve other members of the community in the planning process – especially Vietnamese members from Little Saigon.

Eng says he understands this concern.

“We don’t want to be antagonistic,” Eng said when asked about the prospect of placing the gate in Little Saigon.

But Nguyen cautioned Eng’s sentiments, noting that the Foundation has still not contacted anyone in the Vietnamese community directly about their plans.

“There’s more of a political hope that they have to be mindful of which community they’re in,” Nguyen said.

Northwest Vietnamese News interviewed numerous Vietnamese business owners about the possibility of a historic Chinese gate in Little Saigon. Those interviewed were unaware of plans to build a second Chinese gate, and the majority were opposed to the gate’s proposed location at 12th & King.

“Compared to the Chinese community that has been here for a long time, the Vietnamese are a more recent immigrant group. We must still have our place and our culture,” said Dr. Huy Hoang of Jackson Vision Clinic. “Although the businesses here are small, they need to be preserved and survive so that the Vietnamese Japanese, Chinese in International District can be strong together in forming the International District.”

“I don’t want a Chinese Gate to be built here, and I don’t want Little Saigon to be encroached,” said Mrs. Xuan Lan Pham of Dr. Pham Medical Clinic. “Little Saigon needs to be treated fairly in the International District. This is an area with at least three different communities, it’s not just Chinatown. The Vietnamese must be able to exist equally in this area.”

“I am completely against this idea of building the second Chinese Gate more in Little Saigon,” said Minh Nguyen-Wichman, who serves many Asian clients at International Community Health Services. “The International District encompasses multiple ethnic communities. Chinatown is only one part. I propose the Vietnamese community display more Little Saigon signs and other large Vietnamese signs to mark the residential and business activity of the Vietnamese here.”

Some Vietnamese business owners were more reticent in expressing their opinion.

“I don’t have an opinion, but of course I cannot support this project financially or in spirit,” said Nam Phuong, owner of Nam Phuong Bookstore.

“I feel sad because there are a lot of difficulties on Jackson Street. We are not the property owners, so my opinion doesn’t really matter,” said Minh Nguyen of Lemongrass Restaurant. “All the construction, development in this area is up to the landlords, not to the people who lease space and do business here.”

In the meantime, Eng says the Foundation plans to approach city hall with the project soon, probably after the holidays. During this visit, Eng says they will also ask for about $300,000 from the city for general improvements to the whole area.

“We’re trying to work up a new group … to improve the whole area – a team that will recommend and prioritize programs … whatever the community thinks they should do,” Eng said.

How representative that group will be of the communities within the International District and the effect it will have on the plans and location for the new gate remain to be seen. But one thing is certain – efforts to improve the International District will continue.

“Our main objective is beautify the whole area up to (Twelfth Avenue South),” Eng said. “It’s a mess up there.”

CASEY SMITH is a student in the University of Washington Department of Communication News Laboratory.

Kim Pham of Northwest Vietnamese News contributed to the story by interviewing the Vietnamese business owners in Little Saigon and Minh Nguyen-Wichman.

SU Vietnamese Student Association gathers instant noodles for Food Drive
Tuesday, December 7th, 2010

Seattle University’s Vietnamese Student Association gets involved in the Tet in Seattle Community Holiday Food Drive 2010 by donating cases of Mi Goi as well as money. Part of VSA-SU’s mission statement is to encourage the benefits of cultural diversity and also the culture of Vietnam. This is done in part by building a stronger relationship with the Vietnamese community, as well with Seattle University and the local community.

Tin Bui, VSA-SU’s President, said: “Seattle’s University’s VSA is dedicated to acting as the liaison to connect the youth with the Vietnamese community. Our current goal is to keep a spirit of service as we work together as a team and build a generation of leaders for tomorrow.”

[caption id="attachment_1949" align="alignright" width="600" caption="From Left to Right. Vanessa Nguyen, Patrick Fernandez, Aline Nguyen, Leigton Bareng, Ngoc Doan, Tam-Anh Dinh, Thao Tuong Nguyen, Stephanie Cao, Tammy Nguyen, Nien Hoang, Tiffany Pham, Tiffany Hang, Khuyen Tran, Brian Teodoro, Jennifer Nguyen, Tin Bui, Ashley Nguyen, Andrew Tran, Ly Nguyen. Photo provided by Leighton Bareng"][/caption]
Two Vietnamese Americans win college business scholarships
Tuesday, December 7th, 2010

On Dec. 2, the Business and Economic Development Center at the University of Washington-Foster School of Business held its annual Minority Business Awards at the Westin Hotel in Seattle. More than 500 people attended. Bank of America and JPMorgan Chase were the premier sponsors and the goal was to raise at least $25,000 for 10 BEDC scholarships for college students of color majoring in Business. Two of the winners were Vietnamese American: Mimi Nguyen and Kim Pham.

“Proceeds for the UW Minority Business of the Year Awards help fund scholarships for under-represented students at the Foster School. These students then go out and mentor high school students of the color to prepare them for college. So as we recognize the contributions of this generation of minority business leaders, we’re helping build the next generation,” said Wilfredo Tutol, the Associate Director of BEDC said.

Mimi Nguyễn is the winner of this year’s Asian/Pacific Islander Endowed Scholarship. She is a junior at UW, majoring in Business, specializing in Accounting and Information Science. As a high school student, she was part of BEDC’s YEOC (Young Executive of Color) program, where she was mentored by BEDC college students. She has completed three summer internships with Boeing.

“I decided in third grade I wanted to pursue business. I had an assignment to develop a marketing plan for a book and I really liked doing that. I continued studying business in high, in activities like DECA,” said Nguyen. “I’m really grateful for the API scholarship. It will not only help me with my studies but also give me the opportunity to help Asian owned businesses and I want to help my community.”

Kim Phạm is one of ten BEDC scholars. She is majoring in business, specializing in marketing and entrepreneurship.

“My parents have a catering business, RC Catering in Kent, so I always grew up with a business mindset. I was always helping out at the family business, Costco is my second home!” said Pham. “I also like presenting and speaking and I enjoy working with the YEOC scholars. There are many Vietnamese YEOC scholars and I speak with Vietnamese parents often about my experience.”

Nguoi Viet Tay Bac’s managing editor finds her own InspirAsian
Tuesday, November 9th, 2010

Three Novembers ago, I kneeled before the Chancellor of Cambridge University for my PhD in history. This November, I walked across a stage at the Bellevue Hilton for another certificate – from the Executive Development Institute (EDI), which helps develop culturally diverse leaders in the corporate world.

In the fall of 2008, I ended my nomadic life as a graduate student and returned to my hometown of Seattle to learn about entrepreneurship firsthand, by working at the family business, the Northwest Vietnamese News newspaper.

Although I researched Asian history for most of my adult life, only when I returned to Seattle did I join any organization that focused on serving Asians. When I first decided to study Vietnamese, academic ambition rather than personal reasons drove my efforts.

Now, being Vietnamese American is very much a part of my personal and professional identity. My newspaper keeps thousands of Vietnamese across the state informed of local news. I cannot imagine not being able to speak to my parents in Vietnamese, though I only spoke English to them up until ten years ago.

Over the past two years, I have learned what it means to serve Asians, not to just study Asian history.

When I first started working at the newspaper, I saw its potential to be a bridge between my ethnic community and mainstream society. This is true for all ethnic media. To fulfill its potential, I needed to find supporters not just from within, but also outside the Vietnamese community. So, I ventured outside my Rainier Valley office and began to build my local networks, focusing first on the Asian American community.

I Googled “Asian American” and “Seattle,” and found the National Association of Asian American Professionals (NAAAP)-Seattle. It became my first formal network.

As I assumed the role of the newspaper’s spokesperson, I realized I needed to become the leader people perceived me as.

My parents and academic advisers never mentioned “leadership development” and “networking.” They stressed that if I studied and worked hard, success would follow. When I made a career change at an age most of my friends were on their second or third promotion, I knew that I had to work smarter, not just harder.

I discovered volunteering provides unique opportunities to network. Through volunteering on the boards of the MLK Business Association, NAAAP-Seattle, and Celebrate Asia! Seattle Symphony, I am able to hone my leadership skills and work alongside dedicated individuals with diverse backgrounds and experiences.

Through NAAAP, I learned about the Executive Development Institute. I applied for and won the 2010 NAAAP-Prudential Benefit to EDI.

Aside from formal training with EDI, numerous community leaders have generously mentored me, helping me refine my raw energy and passion. Yoshi and Naomi Minegishi have shown me how to organize and negotiate efficiently, effectively and with grace. Christine Chen always asks me hard questions, pushing me to clarify my message. Elaine Kitamura has taught me the art of networking. Dr. Skip Rowland, Lourdes Sampera Tsukada, Assunta Ng, among many others, continue to inspire me with their pioneering spirit and their commitment to diversity.

In the Vietnamese community – my father Kim Pham, the president of the Vietnamese American Chamber of Commerce Trong Pham, and the Executive Director of the Vietnamese Friendship Association Vu Le always share their invaluable insights.

After seeing a need for ethnic media outlets to become stronger as businesses, I created and launched a capacity-building program for local ethnic media called Sea Beez this past May, with the support of New America Media and the City of Seattle Department of Neighborhoods. Sea Beez includes over twenty different ethnic media organizations, which serve communities as diverse as the Somalis, Chinese, the Yakama, Jews, African Americans, and Hispanics, among others.

Looking back over these two years, by returning home, new worlds have opened up to me.

Julie Pham

This article was originally published in International Examiner’s InspirAsian column: http://www.iexaminer.org/editorial/phd-finds-community-work-inspiring/

Table tennis: from old-country tradition to new club in Bellevue
Tuesday, November 2nd, 2010

Table tennis is a strong sport in Vietnam and China, and many immigrants have brought their love of the game with them to America.

Chris Pham, a coach at the newly established Seattle Pacific Table Tennis Club, is Vietnamese and from Cambodia. Pham said he started playing ping-pong at an early age after trying other sports.

“I played soccer when I was young, but it’s a tough sport in my country and I was fed up with it so I started playing ping-pong,” Pham said in an interview Oct. 21 at the club in Bellevue.

Pham remembers playing ping-pong at recess with his classmates and said he ended up watching most of the games because he lost.

“I practiced at night and soon began beating everyone at school and I remember thinking, ‘I love this sport,’” Pham said.

When Pham reflects on his early years of ping-pong, he says, “Ping-pong saved my life.”

When Pham was drafted into the Vietnamese army at age 22, his table tennis skills prevented him from having to go to war. Instead, he played for the army’s table tennis team.

After the war, Pham coached eight to 10 hours a day to make a living and taught lessons at night for extra money.

“There was a time when hearing the sound of the ball on a table made me scared, like a nightmare. … I coached that much,” Pham said.

The Seattle Pacific Table Tennis Club was founded two months ago and has already seen great success. The players travel all over the country for tournaments and practice ping-pong up to four hours a day. Most of the members are Chinese.

“We already have 115 members in the club, with 20 of them being under the age of 10,” said Coach Judy Qi, who founded the club and spoke Oct. 21.

Qi moved to the U.S. from China four years ago and taught students who played on China’s National Team. She said her goal for the club is to share her ping-pong skills and continue teaching kids to get to the national level.

Alan Lee, a member of the club and marketing assistant, said, “The club is a good environment for both kids and adults and you can really find some high-quality players.”

However, some Vietnamese-Americans are seeing a lack of interest from their younger members.

Hoa Dang, a Vietnamese club member, said in a phone conversation Oct. 25, “I don’t see many young Vietnamese kinds playing ping-pong; kids born in America want to play football, basketball, baseball or soccer.”

Dang said he took up the sport about 40 years ago, for similar reasons as Pham.

“We only had a few things to do in Vietnam ¬¬– swim in the ocean, play ping-pong, play soccer or hang around,” Dang said.

Dang joined the club because he had friends who were members and because he says it’s a better club and more affordable than most.

Pham thinks there are also other reasons for the lack of Vietnamese-American interest.

“The Vietnamese-American players are more casual players,” Pham said. “You feel good, you go! You want to have fun, you go!”

Dang is hopeful that his daughter will actively pursue the sport. He plans to teach her at home and take her to lessons at the club.

“I took her to the club last week to play and she said, ‘Yeah Dad, let’s do this again!’” Dang said.

The Seattle Pacific Table Tennis Club is open seven days a week. Membership fees are $45 per month for adults, (senior discount available), $28 for juniors (under 17) and drop-ins are always welcome. For more information, visit www.spttc.net.

Photo: Chris Pham (left) and Judy Qi (right).

Story and photo by Kelly Mariani.
KELLY MARIANI is a student in the University of Washington Department of Communication News Laboratory.

I love South Seattle: Memoir of Growing Up in the Southend
Tuesday, October 5th, 2010

In 1993, many Southeast Asians resided in apartment buildings along Rainier Avenue, a street which has been home to many poor immigrants and refugees. Thanks to places like Rainer Valley food Bank, many families were saved by dinners with quality foods donated from the valley Safeway. On Rainier Avenue, the bus number 7, 9, and 39 got us to downtown in 45 minutes.

Back then, I used to hear gunshots popping off at least once a day in the Valley. I used to run home from the bus stop as soon as street lights were on. I also played baseball and basketball with neighborhood kids from poor families on Hawthorn Black Top. The friends I grew up with were Asians, Blacks, Whites, and Hispanics. We spent many wonderful summers together because our parents could not afford signing us up for the basketball team, football team, nor community Center programs. It was Marcel, Joe, Chris, Mario, Ben, John, and I owning the Hawthorne Elementary School Blacktop with our many different shades of skin.

My neighbors were kind people and only judged me by my work ethic and often paid generously. The steep hill of Dakota Street is where I made my first dollar by helping an elder carry her groceries up the hill, and helping to feed the strange cats in our alleys. The lady was Miss Violet, and her secret to a happy, simple life was to stay away from politics. She once said to me, “Earthquake will scare you, but stress will kill you.” In addition to Miss Violet, I earned money by doing gardening work for my next-door neighbor Ms. Valentine, and then scrubbing the title floors for another neighbor.

I was once paid $40 for scrubbing a title floor for two hours. At the time in 1994, being 11 years old, that was a lot of money compared to picking strawberries in the sun for 8 hours, which was another one of my jobs. Picking strawberries in the summer time with my grandma started at 7 AM on McClellan. I remember being in the middle of a group of international immigrants, huddling for body heat and shielding each other from the cold morning, waiting for a school bus to take us north to earn 50 cents for picking a gallon bucket of strawberries and $2.50 for a 5 gallon bucket.

On a few occasions, my Vietnamese grandma could not come, so I had to walk for 45 minutes by myself and blend in with the crowd and ask one of the adults to pretend to be my guardian to get to the farm. Call it child labor abuse, or whatever, but eight hours equaling $5.50 a day of work was all I needed. Another 45 minutes walking home from a long day of work with cold rice and a tin of water, I continue to march on along Rainier Avenue. I refused to take the bus to save the money for a bag of Hot Cheetos and a pack of Baseball Cards. I wanted basketball cards, but they were more expensive. So I had to collect baseball cards, crossing my fingers to get a good enough card to trade with my buddy Ben for basketball cards. I was a big basketball fan then.

During the weekend, I often went over to my neighbor’s house to learn how to build and fix computers. My neighbor Ken was a computer genius. Thanks to Ken, by the age of 13 I knew how to replace and upgrade 386, 486, and Pentium PC hardware and how to install software. At the age of 13, I really wanted a computer, but I needed $300.00. I had no other choice but to save my 50 cents that was intended as summer school lunch money, and every penny from side jobs to buy my first computer. It took 9 months.

All I had for lunch, for that whole entire summer going into the seventh grade was a piece of toast from home. I was underweight and kept the same height in six and seventh grade until today due to the malnutrition. How do I compare? I can see significant differences in height between me and my peers returning back after a great summer. Later on in college, the experience with fixing computers, and the help of my local food bank saved me and my childhood friend when we were living on our own.

However, the best gift that 98118 gave to me was “Mom” Wilson, a family support worker at Hawthorne Elementary, whom adopted my whole family. I met Mom Wilson in fifth grade. Back then, I couldn’t speak much English, but every time kids picked on me on the playground, I would leave the playground and to go to Mom Wilson’s office.

Seeing me upset, she would pick me up and put me in her lap and give me hugs and kisses while my uncontrollable manly tears poured out. No shame at all, I was 10 years old. It was Mom Wilson who gave me my first basketball hoop for my birthday, and she also was the first person to tell me that I do not need brand-name shoes and that second hand shoes were just fine for the first day in middle school. Mom Wilson was my grandma. Mom Wilson had me transferred out of Mercer and into Madison Middle School, because she was worried that my behavior may be negatively influenced by some children attending Mercer.

In 2007, Mom Wilson was ill and had to spend most of her time in bed instead of working with the kids and families of which she enjoyed most. She later passed on in 2008. She was the best grandma anybody could have. Mom Wilson was my role model. She taught me to have a lot of compassion for poor people through her inspiration and teaching.

Many years after Mom Wilson first helped me, I became a student body president for North Seattle Community College. During my office term, I created opportunities for recruiters to go into schools in the Southend to provide a new education environment for the poor and diverse people by allocating additional funds, a taboo subject to the college president. Mom Wilson said she was proud of this, when I called her to tell her of my success in diversifying the student body the following year.

In 2007, I ran for Port of Seattle Commissioner at the age of 24. When my parents shared this with mom Wilson, she told my parents that she couldn’t wait to ask all of her friends to vote for me, and wanted me to drop off the newspaper with my picture on it. Because of people like mom Wilson, I will not move out of the Southend, nor relax when it comes to politics that affect my neighborhood. I love South Seattle, because of the hardworking and honest people that live here.

Photo: Black suit my lil bro loc, Mom Wilson is behind him and I’m in the gray suit jacket. My mother is the Asian lady with the swimming goggles, and my lovely sister is in the red jacket.

This article first appeared in www.SouthendSeattle.com

[caption id="attachment_1540" align="aligncenter" width="300" caption="Photo: Black suit my lil bro loc, Mom Wilson is behind him and I’m in the gray suit jacket. My mother is the Asian lady with the swimming goggles, and my lovely sister is in the red jacket"][/caption]
Young Vietnamese designer’s debut fashion show this Saturday
Friday, October 1st, 2010

Bình Nguyễn is a young American born Vietnamese with a quest to design cool clothes while helping raise money for cancer care at Children’s Hospital. His small company, “Questkids”, will hold its first fashion show this Saturday night in downtown Seattle.

Family support and influence

Perhaps Bình’s quest began with his parents’ quest for freedom, when they fled Vũng Tàu via boat in 1978. The 30-year-old Bình was born in Auburn, WA, as the youngest of nine children. Bình describes his family as very close.

“Most weekends, we get together at my parent’s house,” said Bình. “It’s like a big house party. When you hang out with my family, you’ve got to be loud, witty.”

His five sisters and three brothers had a great influence on his life.

“I see them as my backbone, where I can go for advice,” he said. “I had the freedom to try new things.”
Even as a child, Bình was artistic. “He would paint all over the house,” said his sister, Mai Nguyễn.

He saw art as an outlet for his creativity. He painted with graffiti, pencils, water color and “anything I could get my hands on.” He has always loved design, “but it was music that turned me into a fashion designer.”

“My designs are inspired by self-expression, music, color and shape,” Bình said.

Bình’s mother introduced him to fashion and sewing. She is a seamstress in a factory and sews on the side for some clients. She sewed her children’s clothes and even made some of their daughters’ wedding dresses.

Six years ago, Bình started experimenting with fashion design. His sister Mai bought Bình his first silk-screen printing machine for his custom designed t-shirts.

Quest to Get Better

Bình has ten nieces and nephews, who often serve as his test models for his clothing. His niece, Taylor Nguyễn, inspired the mission behind “Questkids” when she was diagnosed in 2005 with kidney cancer at two and half years old.

“It shocked the whole family, because no one in the family has ever had any kind of serious illness,” Bình said. “We were with Taylor in the hospital when she was getting treated.”

At the hospital, Bình spent a lot of time playing with the young patients. He got a chance to see and feel what the children experienced.

“Some days, the kids would get together to play, and one would ask what happened to a certain person,” Bình said. “The response would be, ‘they didn’t make it’.”

The experience inspired Bình to find a way to give back to Children’s Hospital. He said, “All these kids have one life, one journey, one quest to get better.”

Bình pledges to donate 5% of his profit to Children’s Hospital as well as to contribute his design talents.
“I love designing because I love kids,” said Bình. “I see it as a way to give back to the community. I also get to do what I love and meet amazing people along the way.”

Mai added that “all the kids love Bình.”

Becoming a business man

Once Bình decided to start “Questkids,” he also had to learn how to become a businessman.

Luckily for him, he surrounds with good friends who are business savvy. One such friend is Thái Hằng Vũ, director of operations for Questkids.

One huge boost to Questkids happened in May 2010. The Greater Seattle Chamber of Commerce held a Microsoft-sponsored video contest for a business that could show how “Office 2010 helps their business.” Bình’s friend, Chris Williams of Electric Bubble Media, shot the winning video.

“It was one of my biggest achievements,” said Bình. After that, the retailers started calling in with their orders.

Although Bình’s family always supported his career choice, they themselves did not take his aspirations seriously, “thinking it was another thing he’s just trying out”, until Questkids won the Microsoft video contest.

Now they are extremely proud when they cruise the mall and see Bình’s works displayed in window fronts. Stores that carry his line include Deli Boutique, Zebra Club, Eqpt, Bootyland, Snowboard Connection and Little Vinnies.

Questkids’ First Fashion Show and Fundraiser

This Saturday, October 2, Bình will host his first show for QuestKids. He said he’s “overwhelmed with excitement.”

“This event won’t be your typical event,” said Bình. “It’s catering to the kids. There’s going to be Red Carpet, paparazzi, news reporters. The event will focus on raising awareness for Children’s Hospital and raising money. Everyone in family pitchd in toys to help with the set up with the show.”

His niece, Taylor, will be one of the models.

When working with children as models, Bình said, “You can’t predict anything from the kids, and things are always different.”

–Đặng Phong

Photos by Avi Loud. To see more photos, please visit Avi’s Flickr.

EVENT DETAILS: Questkids, Fall 2010 Fashion Show/Launch Party, www.questkids.com, Saturday, October 2, 1010, Deli Boutique, 1307 First Avenue, Seattle, WA 98101, 5:30pm – 8:30pm. Free. Sponsors: Via Tribunali, House of Cake, Studio 3, Deli and Manik. Beneficiary: Seattle Children’s Hospital

[caption id="attachment_1495" align="aligncenter" width="300" caption="Binh Nguyen sits at his new studio space for Questkids. "][/caption]
Political campaigns undervalue importance of minority voters
Friday, October 1st, 2010

SEATTLE—If every vote counts, why are political candidates doing so little to reach out to Washington state’s significant minority communities?

Many ethnic media outlets in the state are asking this very question. While mainstream media is on the decline, ethnic media is growing to meet the needs of new Americans. Racial and ethnic minorities comprise more than 20 percent of the 6.7 million Washingtonians, and the majority of those consume news from ethnic media.

Many ethnic media editors and publishers say politicians are doing a disservice to themselves by overlooking the huge numbers of ethnic voters who could make a difference.

“I’ve seen political candidates come and gain an audience with our tribal leaders. Then they leave,” said Ronnie Washines, managing editor of the Yakama Nation Review and former president of the Native American Journalists Association. “We don’t hear from them again, regardless of whether they win or lose. Until the next election cycle, that is.”

Ethnic media organizations are small, often micro, businesses. Most of them distribute their news for free, and their income is entirely based on advertising. Washines said he passes out his business cards to candidates and invites them to consider advertising, but “nothing has ever come of it.”

The Yakama Nation Review is not alone. Of the 33 ethnic media organizations surveyed for this article, 11 said they received no political campaign advertising. More than half received less than $500 in campaign ads in 2009.

Yet Washington state political candidates and committees invest a significant amount of money in advertising.

According to the state’s Public Disclosure Commission, political expenditures and contributions registered as “ad” or “media” buys totaled almost $3.4 million in 2009.

Yet ad revenue for 33 ethnic media organizations totaled less than $25,000. In other words, only 0.7 percent of the entire political campaign advertising budget spent in 2009 was set aside to reach Washington’s minority communities.

Most ethnic media organizations are produced in-language and serve linguistically isolated populations. Statewide, 7.6 percent of residents report that they speak English “less than very well”; in King County, that figure is 10.8 percent. Many of these people rely on ethnic media for their news.

Money talks. These figures show the extent to which political candidates and committees grossly undervalue the role played by ethnic media in building bridges between local society and ethnic communities.

Campaign strategists may argue that most political campaign advertising goes to broadcast TV and radio, and perhaps Washington’s ethnic media gets a small share of advertising dollars because most of their outlets are print.

Univision Seattle, which reaches 320,000 Hispanics, reported that it received no political campaign advertising last year and don’t expect any this year, either. David Cho, president of AAT TV, the only free-to-air multilingual Asian TV network in Western Washington, said his station has not aired political campaign ads since 2007 because “recent offers were $500 or less. We kindly declined to take the money, since the revenue is too low.”

Yet case studies show advertising in ethnic media has a high return on investment. In California, GOP gubernatorial candidate Meg Whitman has succeeded in cutting Democrat candidate Jerry Brown’s lead among Hispanics from 23 percentage points in January to just 3 points in September, according to the most recent Field Poll. Her secret? Advertising in Spanish-language media.

Do Washington’s politicians choose not to invest advertising money in reaching out to minorities because they think these communities don’t vote in large enough numbers to merit the expense? Or is it because they take these communities for granted? Either way, they are missing important opportunities to engage with a significant number of Washington’s voters.

It is true that Asians, Hispanics, and blacks have lower voter registration than whites in Washington by 20 to 25 percentage points. Considering how little politicians do to engage minority communities, it is surprising the gap is not larger.

But there is great untapped potential in Washington to mobilize minority voters. Washington ranks fourth among states in the registration of Asian voters and eight in the registration of Hispanics—surprisingly high, considering that voting materials are only published in English and Mandarin. After the 2010 Census numbers are counted, election officials predict that voting materials will also be published in Spanish, Korean, and Vietnamese. Politicians should start cultivating these constituencies now through their media.

Perhaps politicians believe certain ethnic communities have an established political disposition. This misconception assumes ethnic media do not strive for the same objectivity upheld in mainstream media.

“It doesn’t matter if they’re Democrat or Republican—our readers just want to know who these candidates are,” said Miguel Blanco, the publisher of El Aguila, a new bilingual Spanish-English publication that serves the south Puget Sound area.

Members of both parties, and even minority candidates, are guilty of not engaging ethnic media as they would with mainstream media.

Some politicians may say their campaign strategists determine their advertising dollars and meeting schedules. Ultimately, however political candidates set their own priorities. The extent to which candidates work toward closing the information gap between mainstream and minority communities while they campaign may predict their actions if elected into office.

Ethnic media organizations are not blameless, either. Many of the ethnic media organizations surveyed for this article admitted that limited time or lack of knowledge inhibited them from aggressively pursuing campaign advertising or interviews with political candidates. Just as political campaigns need to value the role of ethnic media, ethnic media must work harder to make themselves known to political campaigns.

Julie Pham, PhD, is the founder and director of www.seabeez.com and monitors ethnic media in the Northwest for New America Media.

Young Vietnamese designer’s debut fashion show this Saturday
Friday, October 1st, 2010

Bình Nguyễn is a young American born Vietnamese with a quest to design cool clothes while helping raise money for cancer care at Children’s Hospital. His small company, “Questkids”, will hold its first fashion show this Saturday night in downtown Seattle.

Family support and influence

Perhaps Bình’s quest began with his parents’ quest for freedom, when they fled Vũng Tàu via boat in 1978. The 30-year-old Bình was born in Auburn, WA, as the youngest of nine children. Bình describes his family as very close.

“Most weekends, we get together at my parent’s house,” said Bình. “It’s like a big house party. When you hang out with my family, you’ve got to be loud, witty.”

His five sisters and three brothers had a great influence on his life.

“I see them as my backbone, where I can go for advice,” he said. “I had the freedom to try new things.”
Even as a child, Bình was artistic. “He would paint all over the house,” said his sister, Mai Nguyễn.

He saw art as an outlet for his creativity. He painted with graffiti, pencils, water color and “anything I could get my hands on.” He has always loved design, “but it was music that turned me into a fashion designer.”

“My designs are inspired by self-expression, music, color and shape,” Bình said.

Bình’s mother introduced him to fashion and sewing. She is a seamstress in a factory and sews on the side for some clients. She sewed her children’s clothes and even made some of their daughters’ wedding dresses.

Six years ago, Bình started experimenting with fashion design. His sister Mai bought Bình his first silk-screen printing machine for his custom designed t-shirts.

Quest to Get Better

Bình has ten nieces and nephews, who often serve as his test models for his clothing. His niece, Taylor Nguyễn, inspired the mission behind “Questkids” when she was diagnosed in 2005 with kidney cancer at two and half years old.

“It shocked the whole family, because no one in the family has ever had any kind of serious illness,” Bình said. “We were with Taylor in the hospital when she was getting treated.”

At the hospital, Bình spent a lot of time playing with the young patients. He got a chance to see and feel what the children experienced.

“Some days, the kids would get together to play, and one would ask what happened to a certain person,” Bình said. “The response would be, ‘they didn’t make it’.”

The experience inspired Bình to find a way to give back to Children’s Hospital. He said, “All these kids have one life, one journey, one quest to get better.”

Bình pledges to donate 5% of his profit to Children’s Hospital as well as to contribute his design talents.
“I love designing because I love kids,” said Bình. “I see it as a way to give back to the community. I also get to do what I love and meet amazing people along the way.”

Mai added that “all the kids love Bình.”

Becoming a business man

Once Bình decided to start “Questkids,” he also had to learn how to become a businessman.

Luckily for him, he surrounds with good friends who are business savvy. One such friend is Thái Hằng Vũ, director of operations for Questkids.

One huge boost to Questkids happened in May 2010. The Greater Seattle Chamber of Commerce held a Microsoft-sponsored video contest for a business that could show how “Office 2010 helps their business.” Bình’s friend, Chris Williams of Electric Bubble Media, shot the winning video.

“It was one of my biggest achievements,” said Bình. After that, the retailers started calling in with their orders.

Although Bình’s family always supported his career choice, they themselves did not take his aspirations seriously, “thinking it was another thing he’s just trying out”, until Questkids won the Microsoft video contest.

Now they are extremely proud when they cruise the mall and see Bình’s works displayed in window fronts. Stores that carry his line include Deli Boutique, Zebra Club, Eqpt, Bootyland, Snowboard Connection and Little Vinnies.

Questkids’ First Fashion Show and Fundraiser

This Saturday, October 2, Bình will host his first show for QuestKids. He said he’s “overwhelmed with excitement.”

“This event won’t be your typical event,” said Bình. “It’s catering to the kids. There’s going to be Red Carpet, paparazzi, news reporters. The event will focus on raising awareness for Children’s Hospital and raising money. Everyone in family pitchd in toys to help with the set up with the show.”

His niece, Taylor, will be one of the models.

When working with children as models, Bình said, “You can’t predict anything from the kids, and things are always different.”

–Đặng Phong

Photos by Avi Loud. To see more photos, please visit Avi’s Flickr.

EVENT DETAILS: Questkids, Fall 2010 Fashion Show/Launch Party, www.questkids.com, Saturday, October 2, 1010, Deli Boutique, 1307 First Avenue, Seattle, WA 98101, 5:30pm – 8:30pm. Free. Sponsors: Via Tribunali, House of Cake, Studio 3, Deli and Manik. Beneficiary: Seattle Children’s Hospital

[caption id="attachment_1495" align="aligncenter" width="300" caption="Binh Nguyen sits at his new studio space for Questkids. "][/caption]
Đạo Diễn Tim Bùi: Nếu người Việt không đưa phim Việt vào rạp Mỹ, sẽ không có ai làm
Tuesday, September 28th, 2010

LTS: Bộ phim “Để Mai Tính” (Fool For Love) được quảng bá là bộ phim nổi nhất được tại Việt Nam trong năm. Theo đạo diễn của bộ phim Charlie Nguyễn, chi phí làm phim khoảng $400,000 đã thu lại được trong mấy tháng tại Việt Nam. Đây là một sự kiện lạ, hiếm có trong tình hình nền điện ảnh Việt Nam èo uột cả bên trong nước lẫn ở hải ngoại. “Để Mai Tính” là một phim tình cảm xã hội, hài hước nhẹ nhàng, với các diễn viên chính như Dustin Nguyễn, Kathy Uyên, Charlie Nguyễn (đạo diễn) và cũng là tài tử, cùng với Thái Hòa.

Phim “Để Mai Tính” đang được trình chiếu tại một số rạp ở quận Cam và một số thành phố khác trên toàn quốc Hoa Kỳ. Bộ phim được phát hành tại Hoa Kỳ bởi công ty Wave Releasing (www.wavereleasing.com), một công ty phát hành phim do các nhà làm phim trẻ gốc Việt thành lập, trong đó có đạo diễn Tim Bùi (đạo diễn phim nổi tiếng “Ba Mùa”, “Rồng Xanh”, “Power Blue”). Đạo diễn Tim Bùi đã dành cho chúng tôi một buổi phỏng vấn ngắn ngay trước xuất chiếu 10:30 khuya thứ Bảy tháng 9, 2010 tại rạp Regal thành phố Garden Grove. Khán giả tại Seattle và vùng phụ cận có thể xem phim “Để Mai Tính” bắt đầu từ thứ Sáu 1 tháng 10-2010 tại rạp chiếu phim Regal – downtown Seattle. Xin xem lịch trình các xuất chiếu tại Rạp Regal Seattle. Xem giờ chiếu đăng trên trang Báo Người Việt Tây Bắc thứ Sáu 1 tháng 10-2010. Xem quảng cáo chi tiết trang bìa sau số thứ Ba & phần hình ảnh của cuộc phỏng vấn qua chương trình Phố Bolsa TV tại www.youtube.com/PhoBolsaT.

VW: Xin Tim Bùi cho biết anh giữ vai trò gì trong bộ phim “Để Mai Tính” này?

Tim Bùi (TB): Tim lo phát hành cho phim này ở Mỹ. Hồi về Việt Nam xem được phim này, Tim gặp Dustin và Charlie, để xin được phép mang phim này qua chia xẻ với cộng đồng người Việt ở Mỹ.

VW: Lý do gì khiến anh quyết định chọn phát hành phim này?

TB: Có hai lý do. Thứ nhất là Tim muốn giới thiệu để cộng đồng mình có nhiều phim hay để xem. Tôi muốn tạo một chương trình để giới thiệu, vì những phim Việt Nam này, nếu không có người Việt Nam mình đứng ra để đưa vào các rạp Mỹ, sẽ không có ai làm chuyện đó hết cả. Các nhà phát hành phim Mỹ không bao giờ để ý đến phim Việt Nam mình. Rất quan trọng để cộng đồng Việt Nam mình ngày càng có nhiều phim hơn, có tiếng nói lớn mạnh hơn.

VW: Chất lượng của bộ phim này có là một yếu tố khiến anh chọn để phát hành không?

TB: Đúng là chất lượng. Tim chỉ muốn phát hành những bộ phim có chất lượng cao. Sau lần Tim phát hành bộ phim “Cú và Chim Se Sẻ”, nhiều người tìm đến Tim để đề nghị phát hành phim, Tim luôn đặt vấn đề chất lượng phim. Mình phải nâng cao tiêu chuẩn và tiếp tục phát triển về chất lượng phim lên. Bộ phim này có đạo diễn Charlie Nguyễn rất giỏi, ai cũng biết qua phim “Dòng Máu Anh Hùng”. Có Kathy qua bộ phim “Passport to Love/Tình Xa Xứ”. Có Dustin Nguyễn.

VW: Anh cho biết sơ qua nội dung bộ phim “Để Mai Tính”?

TB: Đây là một phim vui vẻ, nói về tình yêu. Coi để giải trí vui cười và cũng sẽ thấy hợp với mình. Nam hay nữ, lớn tuổi hay trẻ tuổi, coi phim này sẽ thấy hiểu mình hơn một chút.
VW: Là một đạo diễn, anh đánh giá về sự diễn xuất của các diễn viên trong phim này như thế nào?

TB: Thấy rất tốt, rất tự nhiên. Phim Việt Nam mình thường diễn không tự nhiên. Trong phim này Dustin, Kathy và Thái Hòa diễn rất tự nhiên. Cũng nhờ đạo diễn Charlie, sự điều khiển của Charlie rất tốt.

VW: Nếu so sánh với những diễn viên Hollywood mà anh đã là việc chung, các diễn viên trong phim này thế nào?

TB: Tôi thấy rất bằng nhau, nhất là trong thể loại phim hài hước tình cảm. Mình cảm thấy bị thu hút bởi các nhân vật. Điều đó cho thấy các diễn viên đã diễn rât tốt.

VW: Cá nhân anh thấy thích nhân vật nào nhất trong bộ phim?

TB: Mỗi vai có một nét riêng. Thí dụ như nhân vật Thái Hòa ai cũng thích rồi. Bề ngoài thì làm cho mình cười, nhưng dưới cái đó có chiều sâu nhẹ nhàng. Có những cảnh không cần phải nói nhiều, mà mình vẫn hiểu tình cảm, sự đau khổ của nhân vật. Diễn viên giỏi mới có thể chuyển tải được tình cảm đó. Vai của Kathy và Dustin cũng mạnh. Coi phim này xong ai cũng nhớ vai của Thái Hòa.

VW: Theo Charlie cho biết thu nhập của phim này khi chiếu ở Việt Nam thu rất khá. Còn ở Mỹ từ lúc phát hành, số thu ra sao?

TB: Mình mới bắt đầu thứ Sáu này, ngày 10. Sáng thứ hai mới có bản báo cáo. Nhưng nghe được từ quản lý các rạp hát, cũng như tối nay người xem và kín rạp. Rất vui vẻ và tốt đẹp.

VW: Dự tính phim này sẽ chiếu trong bao lâu?

TB: Phim sẽ chiếu tính theo mỗi tuần. Nếu số lượng người xem tốt, họ sẽ giữ chiếu tiếp. Bây giờ thì biết sẽ chiếu thêm tuần tới, và sau đó đi Houston, Seattle tuần Các rạp cho biết “họ sẽ cho tiếp tục chiếu sau đó hay không, tùy thuộc số lượng khán giả mua vé ủng hộ… nhiềuy hay ít. Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào người đi xem phim từ cộng đồng Việt Nam.

VW: Tối đa có thể chiếu được bao lâu?

TB: Có những phim có thể chiếu được tới sáu hoặc bảy tuần.

VW: Vậy ai muốn coi phim này phải đi ngay?

TB: Đúng rồi. Coi ngay rồi về nói thêm với bạn bè đi coi.

VW: Riêng về những dự án phim của anh, sau các phim “Ba Mùa” và “Rồng Xanh”, anh có làm phim nào khác không?

TB: Hồi đầu năm 2009 có ra một phim là “Powder Blue”, với diễn viên mới thắng Oscar là Forest Whitaker, cùng với Jessica Biel và Ray Liotta.

VW: Anh giữ vai trò gì trong phim đó?

TB: Tim là đạo diễn và viết kịch bản.

VW: Anh có những dự án phim nào trong thời gian tới, đặc biệt là phim cho riêng khán giả Việt Nam?

TB: Hai tuần nữa Tim sẽ về Việt Nam, quay một phim có tên là “Die Laughing” (tạm dịch là Chết Cười, Chết Vì Cười hay Cười Đến Chết). Phim thể loại action, về một nữ sát thủ gặp một ông nấu phở. Hai người đó có 36 tiếng để mang một cái vali đi từ Sài Gòn ra tới Đà Nẵng.

VW: Diễn viên chính của phim là ai?

TB: Bây giờ đã chọn được một diễn viên chính, nhưng chưa muốn nói vì để ký hợp đồng xong trước đã.

VW: Diễn viên và khung cảnh hoàn toàn ở Việt Nam.

TB: Quay hết ở Việt Nam. Diễn viên là 90% ở Việt Nam. Mình đem hai người từ bên Mỹ qua.

VW: Xin cám ơn đạo diễn Tim Bùi

Vũ Hoàng Lân (VW)

Call to Vietnamese CPAs to help Vietnamese victims of BP Oil spill
Tuesday, September 14th, 2010

SEATTLE (NVTB)- Thao Tran has been spending a significant amount of his personal time this summer in Louisiana. This is no vacation for him as he is working closely with the Vietnamese fishermen in the region who have seen their livelihoods devastated by the BP oil spill.

While a $20 billion fund has been setup by BP to help businesses affected by this massive oil spill, there is a very low chance that the Vietnamese fishermen will get to receive their fair share of the fund. BP requires evidence, in the form of financial statements, to support any amount that victims are claiming. Unfortunately, for the Vietnamese fishermen, many of them do not have the ability to create such documents.

To assist the Vietnamese fishermen, Tran is planning to setup seminars to teach them about the concept of and how to create financial statements. Tran does not have the professional experience needed to educate the Vietnamese fishermen about financial statements and is putting out a request to professionals in our region who are:

• Certified public accountants (CPAs) with a specialization in taxes, and
• Fluent in Vietnamese
• Willing to provide pro bono services but all expenses will be covered

“20,000 to 30,000 livelihoods have been wiped out in the Vietnamese fisher community in the Gulf states,” said Tran. “We are in a state of emergency to help get people out of despair and ruined lives from the lack of Vietnamese translation. They will not recover until our compassion is moved to action. If you don’t help who will?”

He is asking for a commitment of 3 days from CPAs to fly to Louisiana to teach the Vietnamese fishermen and offer up professional advice. If you are meet these requirements, please contact Tran at opulentfish@gmail.com. Time is of the essence as your services are required within the next two weeks.

Li Tan

Vietnam Scholarship Foundation raises $31,000 at 8/20 Fundraiser
Friday, August 20th, 2010

With just eighty attendees, the Vietnam Scholarship Foundation raised over $31,000 to fund scholarships for students in Vietnam at its Sixth Annual Benefit Event at New Holly Gathering Hall on August 20.

When VNSF started in 2001, it funded 10 students to go to school. Now, VNSF provides scholarships to 376 Vietnamese children from grade one through university in six different provinces. They aim to serve 20 more students each year.

This past year, Paul Tamura, VNSF board chair, said VNSF has expanded its Reading Room program to four locations in An Giang, Can Tho, and Saigon. This VNSF program buys books and renovates libraries. Since 2008, VNSF also sponsors bicycles so that children have a means of transport to get to school.

Tam Nguyen co-founded VNSF in 2001 with the help of his close friends. He is also the owner of Tamarind Tree restaurant and Long Provincial Restaurant, which catered the event.

Nguyen said he suggested the event theme of a night market because of his current work developing a night market in Georgetown with Emerald Night Market.

“I wanted to have everyone to have fun,” said Nguyen. “We were worried we were not going to raise as much money in the past, since everyone is having a tough time right now. But at the last minute, people started pouring in support.”

“The board has spent countless number of hours since April to organize this event,” said Tamura.

This is the first year the Benefit Event was held at New Holly Gathering Place.

Tamura explained that the decision to hold it at New Holly was so that the event could be “in the heart of the Vietnamese community and to save on rental fees.”

“If we save $100, it means a year of vocational school for someone,” said Tamura.

Tamura added most of the money raised from this event came from friends and friends of friends of VNSF.

Long-time VNSF supporter Kenneth La attended the event.

“I’m surprised by how much costs involved in going to school in Vietnam,” said La. “And I’m glad that there’s an organization like this to help students.”

“I’m honored to be here, to support an organization that works on development of youth” said Lee Lambert, President of Shoreline Community College and a first-time supporter at the event.

La added he is impressed that board members go to Vietnam to individually interview students.

Nguyen said he still remembers the story of one young girl in 9th grade who lived in Ca Mau.

“I had to take a canoe through a canal to get to her house and all I saw was a shed,” said Nguyen. “I was anxious to give her the scholarship. We need to confirm that she had the drive to finish school. When I got there, she asked if she could give her scholarship to her younger sister. She said her family could only afford to let one of them go to school and she said with her ninth grade education, she had studied enough. She should go to work now, but her younger sister need to go.”

“I had to hold back my tears, because I could see how much love she had for her sister,” said Nguyen.

He went back to the VNSF board and got special permission to grant the household two scholarships so that both sisters could go to school.

The event raised $31,000 of the $36,800 needed to pay for the entire education (grade 1 to College) of the 20 students VNSF hopes to accept next school year. To donate, please mail a check to: Viet Nam Scholarship Foundation, P.O. Box 16016, Seattle, WA 98116 or visit www.vnsf.org

JULIE PHAM/NVTB

Business success boils down to relationships, says architect
Monday, August 23rd, 2010

Donald King, president and CEO of DKA Architecture, started planning his first city when he was 12. He envisioned his metropolis along a massive river on the edge of the Pacific and named it Kingston. For four years he labored, developing the city and designing the buildings that sprung from the valley floor. When the model was finished he started redesigning his hometown.

King, an African American, was raised in Port Huron, Mich., by a single mother. He was poor, but rich in imagination and fascinated by urban planning and building cities. At a young age he saw a magazine article about the building of a new capital city in Brazil. “Once I saw that building a whole new city could really happen, that’s when I decided that I wanted to be an architect,” King said.

His early projects earned him a full page spread in the local paper. Soon he got his first paying gig when city planners hired him to do rendering projects for the city. By his last year of high school King was working part-time for an architectural firm.

King held many jobs as he worked his way through school. He became a licensed architect after earning his master’s of architecture from UCLA. From there he was hired to work as a staff architect for the housing authority of the city of Los Angeles.

When King came to visit a friend in Seattle he decided it was time to relocate. He found a job as principal architect with Environmental Works, a non-profit community design center. In 1985, after four years with Environmental Works King started his own firm, DKA Architecture.

Like many small businesses just starting out, King had trouble funding his new endeavor. “I started [DKA Architecture] by maxing out two credit cards,” said King. That wasn’t the plan but there was a mortgage payment and food to buy and the other necessities of life.”

For the next five years King held full-time jobs while he kept DKA going on his lunch hour, in the evenings and on weekends.

In 1987, DKA won their first government contract. A former co-worker of King that worked for the Seattle School District hired DKA to help with site management for new school construction.
Initially King was wary of doing government projects. “Seeking public work was purely a business decision,” King said. “I’d heard the horror stories of working for the government and was not looking forward to it.” Despite King’s initial concerns, DKA has maintained a strong and successful relationship with Seattle Public Schools since their original project together. “I learned early that there were very few projects we could win, public or private, without an established relationship. That hasn’t changed in the twenty-five years I’ve been in business,” King said.
DKA recently celebrated its 25th year in business, with a dedication to sustainably designing community based housing, education and health-care projects. The firm is currently managing the building of five new schools for Seattle Public Schools’ Building Excellence Program and completing the renovation of 23 high-rises for the Seattle Housing Authority. DKA has maintained steady growth despite the troubled economy and had revenues of about $5 million last year, King said.

King built his firm by maintaining relationships through a client-centered focus on business development. He says small emerging businesses that struggle with getting new clients should approach their development with the same philosophy.

“Do your best work for the clients that you have and strengthen your relationships with those clients,” said King. “If you don’t have any clients, then the best way to win new clients is through a relationship. You learn about the client and how you can make what’s important to them a focus of your business.”

The passage of I-200 in 1998 nullified affirmative action by prohibiting preferential treatment or discrimination based on race, gender, color, sex or national origin by government entities in Washington state. This new policy extended to public contracting.
“Things have changed from when I started as far as [affirmative action] being the opening or way to begin your business career,” said King. “For a minority-owned business there is no advantage.”

But there are many organizations that provide resources for minority owned businesses.

JONATHAN MOORE
UW News Lab

International Festival will celebrate Renton’s rich diversity
Tuesday, August 10th, 2010

As the first Renton International Festival nears, community leaders are excited about its potential for creating a closer bond among cultural groups.

“[Renton] is a big melting pot and it’s too big to have a bunch of isolated pockets,” said Bill Taylor, president of the Renton Chamber of Commerce. “So we are trying to blend it all together and this is a gigantic first step toward that.”

Renton’s growing diversity has fueled discussion about hosting an international festival in the city for several years. But it took the vision of a prominent member of the Vietnamese community to get the ball rolling.

Duc Tran, chairman of the Viet Wah Group, one of the largest Asian grocery importers, wholesale distributors and retailers in the Northwest, said he initiated talks about having an international festival that would “promote cross-cultural activity.”

Such a festival would celebrate the arts, cuisine and entertainment of the multicultural community in Renton.

On Aug. 13-15, Tran’s vision will become a reality. Festival goers will be greeted with a lion dance performed by students of Master David Leong’s Shaolin Kung Fu School at the ribbon-cutting ceremony Aug. 13 at 4 p.m.

Guests of honor at the opening ceremony will include Renton Mayor Denis Law, Director Gen. Daniel Liao of the Taipei Economic & Cultural Office in Seattle, Miss Washington Jacquie Brown, and representatives of the festival sponsors. It will be held at the Greater Highlands Center at the Viet Wah Plaza, 2820 Sunset Blvd. in Renton.

Taylor says that Renton is the perfect location for such a festival. “In the Renton School District 34 percent of the kids enrolled have a home language that is not English. There are 88 languages spoken in our school district. …We are an incredibly diverse community, so it’s really important that we celebrate that diversity and get to know each other’s cultures.”

Local businesses will also have a chance to meet and network.

“We want our businesses to survive, and getting them more exposure in the community, and more exposure to each other, is going to help them all have a better and healthier life,” said Taylor.

The festival will offer booths with food, arts and crafts and other merchandise, live bands, multicultural performances, a kid’s corner and games. The performance stage, sponsored by the Tulalip Resort Casino, will feature a range of performers that reflect the diversity of Renton, including one by the Vietnamese organization Tet in Seattle.

“In terms of performances and booths we have Brazilian, African, Chinese, Latino, Russian, Mexican, rock, folk and many more,” said Annie Malick, who is the marketing and business development director for the Seattle Chinese Times and event organizer for the festival. Punk rock, folk and a symphony performance by the Northwest Sinfonietta are also on the schedule.

DJs and models will be on hand Aug. 14 when more than 50 highly modified automobiles will be on display during the NW Motiv International Automotive Showcase. NW Motiv, an e-magazine, is made up of team members who have been promoting automotive culture in the Northwest for the last decade. They are launching their showcase at the Renton International Festival as a step toward putting the Northwest automotive scene back on the map.

Mario Chan, editor and event coordinator for NW Motiv, says that the diversity of the Northwest will be reflected in the NW Motiv showcase. “We really wanted to show the Northwest a diverse automotive community. We’ve got motorcycles, lowriders, exotics, SUVs, luxury cars, you name it,” said Chan. “This will be a very multicultural festival so we want to educate the audience about the automotive culture. … We want to show that this culture is still very much alive.”

From 5-6 p.m. a panel of judges will present awards in 10 categories, including a viewers choice award that gives attendees a chance to select their favorite ride. Check out www.nwmotiv.com for more information on the event.

Adding to the excitement, “The Next King of Pop”— a Michael Jackson talent search contest sponsored by Battalion Entertainment — will be held Aug. 14 and 15. Contestants will be judged on their singing, dancing or both. Winners will receive two original beat tracks, free studio time, free performance bookings for three months and a professional press kit to send to record labels. Details can be found at www.battalion-ent.com.

One Media Venture, a Seattle based-media and production company, is launching the festival, which is co-sponsored by The Seattle Chinese Times, Renton Chamber of Commerce and the Viet Wah Group.

Admission for the Renton International Festival is free. To learn more about the festival visit www.rentonfest.com.

JONATHAN MOORE is a student in the University of Washington Department of Communication News Laboratory

Seafair float will honor emperor who brought Vietnamese people together
Tuesday, July 27th, 2010

The Vietnamese community’s Seafair float for this year will feature Lac Viet, a native bird, to symbolize Vietnamese migration to the U.S. It will also pay homage to the emperor who united Vietnam.

Emperor Dinh Bo Linh, who is credited with being the first emperor in Vietnamese history to establish a nation independent of China, believed in the concept of “bringing people together,” according to Dr. Kiet Ly of Tet in Seattle.

With that in mind, the Vietnamese-American Seafair Coalition has gathered volunteers and will finish assembling its massive, community hand-built float for the 2010 Torchlight Parade this weekend.

Last year, the Vietnamese community’s “Legends of the Sea” float won first place in the Alaska Sweepstakes for “Best Use of Parade Theme.” The community has now formed a Seafair coalition of five different Vietnamese organizations, according to VASC Co-Chairman Trong Pham.

Now five organizations – the Vietnamese Community of Seattle & Vicinity, the Washington Vietnamese-American Chamber of Commerce, the Vietnamese-American Bar Association of Washington, Tet in Seattle, and the Vietnamese Heritage Association — are working “across the boundaries” to develop a closer Vietnamese community, Pham said.

Tet in Seattle was in charge of designing the parade float and presented possible themes. This year’s theme focuses on Emperor Dinh Bo Linh when he was young, set in the Vietnamese “country-buffalo farmer” culture in the 10th century, Pham said.

The float chassis is constructed of steel and plywood. Decorations will include silk lotus flowers and a real 8-foot bamboo plant. Up until 2010, Ly had been the executive director of Tet for over eight years. This year, he is the Tet liaison for the Vietnamese Seafair Coalition. In this position, he attends meetings for potential projects and reports back to Tet, he said.

When Ly attended the pitch meeting for forming the VASC, he said it was “an easy sell” for him as he very much liked the idea.

“They’re doing what we’ve been doing for years. … We have been trying to get volunteers to appreciate the value of collaboration in our community,” he said. VABAW – the Bar Association — handles the legal aspects of Seafair for the Vietnamese community. According to the organization’s website, its overall mission is “to provide mutual support for attorneys in advancement of their careers, be a trusted guide and resource for students who aspire towards the legal profession, (and) serve as a voice for the local Vietnamese-American community.”

In the past, the Vietnamese community did not have solid legal representation to address matters, so VABAW stepped in to handle this area of concern, Ly explained.

Construction of the float has been hindered by problems trying to transfer the massive chassis to the desired setup site. This led the coalition to seek financial support. They made heritage cards featuring the native Vietnam chim Lac bird on them; local Vietnamese businesses have made the cards available for supportive donations, usually $1.

“The float was massive, we couldn’t haul it to Seattle and have the community help finish the design on site like we wanted to … to get them to participate,” Ly said.

Nonetheless, volunteers ranging from their late-teens to mid-30s have formed task groups assigned to decorate and finalize a portion of the float. Once done, the task groups will bring the parts together for final assembly. We want the community to be involved in building this float. … We want them to have ownership of (it),” said Ly.

Both Ly and Pham agree that the goal is to bring their community together, especially by developing leadership within its membership.

“We are developing a procedure — a process of working together,” Pham said. “This is the first time we’ve ever done this. We want this to become a tradition.” Pham is also the president of the Vietnamese-American Chamber of Commerce.

Last year Denny Dang, a consultant for the Vietnamese Heritage Association and project leader for Vietnamese Seafair, called on community members to participation in a “share the work” environment. “Ownership can be shared by team members. … It would make the project successful,” he said. “There are different groups and different agendas. … It’s about what we have in common,” he added. All five groups have “youngsters brought up in the U.S. with a Vietnamese background” for whom the coalition theme is designed to provide insight about community leadership values.

Ly explained that when the young emperor realized that his views of “how we should work together” differed from the mainstream ideas that had once controlled 12 separate tribes of people at that time, “Dinh dreamt of being emperor and uniting the country together.

“There’s no reason why you can’t dream big dreams and become something to help your community,” he said.

Story by AMIRA ROBINSON-LEWIS, a student in the University of Washington Department of Communication News Laboratory.

Tet in Seattle wins $20,000 in Chase Giving Campaign
Friday, July 16th, 2010

After a record setting performance in the Relay for Life fund raising campaign, Tết in Seattle once again produced another proud moment for the Vietnamese American community in greater Seattle area. For the past month, Tết in Seattle group participated in the Chase Community Giving campaign. It’s a nationwide event with more than 500,000 non-profit charities participated and five million dollars in prizes for the top 200 contenders. After 4 weeks spending day and night soliciting supports and votes from local community, Tết in Seattle able to finished in 85 places and a 20,000 dollars prize. It was a very significant accomplishment considering there were only 3 non-profit groups in greater Seattle finished in the top 200 and Tết in Seattle was the first and only Vietnamese organization got the prize. According to Mr. Khanh Vu, TIS Executive Director, everyone in Tết in Seattle organization committee was extremely happy and proud at the final result. It was a great display of teamwork, dedication and commitment. This Chase event also allowed Tết group an opportunity to reach out to young Vietnamese American and encouraging them to step up and help make a difference in the community. This is also the key message and theme for the upcoming Tết Festival 2011 – Dòng Máu Lạc Hồng or A Fire Within

Tet in Seattle

Tet in Seattle

“Amelia” brings the Vietnamese language to a major American opera stage for the first time
Wednesday, May 19th, 2010

“I don’t know of a single major American opera that has set Vietnamese to music,” says Daron Aric Hagen, composer of new opera “Amelia.” His observation was echoed by the “Amelia” singers and audience as well.

“Amelia” addresses the consequences of the Vietnam War. It had its world premiere with the Seattle Opera on May 8 and will run through May 22. Hagen received the commission to write the opera eight years ago, but says he has intended to write an opera about the American experience in Vietnam since he was a teenager.

“I am a child of the ‘60s,” explains Hagen, “too young to serve but old enough to march against the Vietnam War with my big brothers in Madison, Wis. …The Vietnam experience shaped me as it did my brothers.”

When he began writing the music score for “Amelia,” Hagen wasn’t sure Vietnam would be prominent in the story. The opera is based on Gardner McFall’s book “The Pilot’s Daughter,” containing 39 poems about the loss of her father in the Vietnam War and how that experience shaped her life.

The opera follows the character Amelia, who is pregnant with her first child, as she struggles for a sense of closure concerning her father’s death in the war. Ultimately, the one scene that takes place outside the U.S. in a small Vietnamese village became the largest and most striking scene in the opera.

“I have come to learn through the process of incorporating Vietnam into this story, that it is the heart of this story,” Hagen says, “because Amelia has spent—as so many Americans have–their adult lives coming to terms with incomplete mourning of service.”

Making Amelia authentic

Once Hagen realized the significant role the Vietnamese culture and language would play in “Amelia,” his principal task in the Vietnam scene was to make the music reflect its characters and setting. He acknowledged that in the past, operas have traditionally been “artistically imperialistic.”

Hagen chose to have all the Vietnamese characters sing in their language for this reason. “They do so because that is the honorable and respectful thing to have those characters do,” he says.

But to achieve authenticity required much revision and research by Hagen. He studied the Vietnamese language for about sixth months himself and relied on the expertise of several Vietnamese speakers and language coaches.

“I worked extensively with a Vietnamese woman who was a concert pianist … whose mother gave birth to her after her father was killed in the war—he was a soldier.”

Hagen said that he would gradually move notes up the scale, “negotiating” the pitches to achieve the proper meaning of a word being sung in Vietnamese. He recalled the pianist’s feedback:
“You have to go further up in order for it to make sense…
“That’s not high enough because it still doesn’t mean daughter, it means chicken.
“No, no, still not high enough.
“Okay, you can have that.”

Hagen went through this process to specifically create an authentic experience for the audience. But he says languages are always most beautiful when they are properly set in the music.

After this initial revision, Seattle Opera worked with the singers and Cay Bach, a Vietnamese voice coach who declined to be interviewed, to achieve not just proper word choice, but correct pronunciation while the music was being sung.

Singers take it to the stage

Karen Vuong sings one of the two primary Vietnamese roles as the character Trang. Of the 34 singers in the company, 12 learned to sing in Vietnamese, although none have Vietnamese heritage.

Vuong’s ancestry is Chinese but her parents were born in South Vietnam and lived there during the war, so she heard the language spoken a lot as a child.

“My mom, she drilled me pretty rigorously [on the language],” said Vuong. “But then once Cay [our language coach] came in the picture … it was just layer upon layer upon layer of just these subtle things. I didn’t realize that there was a difference in accent between South Vietnam and North Vietnam.”

Figuring out the nuances of the language took hours of practice, sitting in groups and mimicking fluent speakers to ensure accuracy. Opera singers are accustomed to parts written in the Romance languages, but this was an entirely new challenge.

“Singing an Eastern language with a Western approach, all of us have had to explore the best way to get the best possible sound and still have the words be as authentic and clear as possible,” Vuong said.

She is happy to have this opportunity, though. “It’s been great because, being in this opera and making the connection ‘Oh, my family was there during the war,’ all these stories have started coming out of the woodwork.”

When Vuong got her costume, her mother demanded she bring it home to show her and exclaimed, “Oh, that’s exactly what we wore!”

“I look in the mirror and I actually see my grandmother in front of me,” said Vuong.

The reaction from the audience

At the May 12 performance, audience members related to the authenticity of the relationships and emotions portrayed in the opera. Many in attendance were youth or young adults during the war and remember, as Hagen mentioned, how significantly the war influenced American lives for the next several decades.

In the opera, the revelation of a Vietnamese couple going through the same grieving process as Amelia, also for the loss of a loved one during the war, honors both cultural perspectives.

Sandra Gilbert, a season ticket holder who lost her first husband in the Vietnam War, said, “There’s actually a trilogy represented [in the opera], with the Americans, the NVA [North Vietnamese Army], and then the civilian population—and they were all affected.”

Two young adult audience members said they appreciated that the Vietnam scene isn’t overly dramatic as fight scenes can often be, especially in older operas. “This is really gritty and kind of amazing that way,” said Shannon McMullen, of the scene in which both an American and Vietnamese are shot, side by side.

Through this comparison, the authenticity of characters’ emotions and the realistic relationship between the two cultures shows, and seemed to captivate the audience most.

McMullen and Gilbert, along with other audience members, connected the challenges and themes addressed in “Amelia” to the American experiences in Iraq and Afghanistan today, showing that generations of Americans still find this period of history relevant.

By BRIANA WATTS, special to Northwest Vietnamese News
UW News Lab

Caption: Karen Vuong (left), sings one of the two primary Vietnamese roles as the character Trang, and composer Daron Aric Hagen.

Renowned jazz musician, educator sets tone for change
Tuesday, May 25th, 2010

Cuong Vu wants to start a revolution.

Through his roles as a University of Washington professor and a professional musician, the Vietnamese trumpeter is on a mission to conduct a thriving jazz scene right here in the Pacific Northwest.

“The jazz scene here, for the most part, is pretty conservative and lackadaisical,” Vu said in a recent interview. “[Musicians] are content. But, at the same time, there’s less work and, instead of going out and making things happen, a lot of them complain.”

But Vu is working hard to prepare his students to act as the catalyst for a change. “My main goal is to help these guys – and the next generations that graduate – create this scene here that’s really vibrant and forward-looking and innovative.”

A natural leader

If anyone can inspire a community of musicians, it’s Vu. He has been hailed by critics as a “progressive futurist,” a natural leader, and likened to Miles Davis – qualities visible the moment he begins to play.
At a recent show in Wallingford’s Chapel Performance Space – part of IMPFest 2010, a collection of Seattle’s improvised music – Vu stepped onstage wearing worn jeans and a simple button-down shirt. Slight in form and modest in demeanor, he doesn’t demand much physical space. He watched quietly as bandmates Stomu Takeishi, Ted Poor and Luke Bergman started the piece, then brought his Yamaha Custom trumpet to his lips and began to play. His tone was strong, pure and immediately arresting, filling the small space with a single, high note, then dropping into a fast-paced and reverberating phrase.

Vu has carefully cultivated his unusual sound throughout his career. Inspired as a young musician by the soaring distortion of rock guitar players, he frequently uses electronics to alter his sound. “Some critics have said basically I’m a guitar player who’s playing the trumpet,” he said with a laugh. “I try to affect my sound to have the certain impact that a distorted guitar has.”

“His sound is something that makes him unique from any other trumpet player,” said UW junior Brennan Carter. “You would be able to identify ‘OK, that’s Cuong,’ just by a recording.”

“I learn a lot from Cuong”

Born to musical parents in Saigon, Vietnam, Vu immigrated with his family to the United States in 1975. In Vietnam his mother, Nikki, was active in the music scene, singing often in nightclubs and with a military band, and his dad was a multi-instrumentalist and bandleader who played the drums, guitar, bass and trumpet.

The family fled from Vietnam in 1975, after learning the communist regime was heading toward South Vietnam. Nikki was prepared to leave but Vu’s father, as a member of the army, had to stay behind and fight. “He said: ‘Just take the kids and go,’” she said of her former husband. “I’ll come when I can.”

The family arrived in Bellevue, sponsored by Nikki’s sister who had moved to the Northwest in 1973 following her marriage to an American man. After settling into the Eastside, Nikki worked as a beautician in order to support Vu and his younger sister, Jessie. Though she was forced to quit singing, she made sure to instill a love of music in her young children, first enrolling them in piano lessons and, later, purchasing Vu’s first trumpet.

When talking about her life as a musician, Nikki lights up. “I love music, I love singing,” she said, recalling her days working with the Vietnamese duo Văn Phụng and Châu Hà. “And, I love the kids. I’m so proud of him and his friends and I’m so happy every time he’s touring.”

Vu recognizes his mother’s sacrifice: “My mom has always kind of lived vicariously through me.” His mother’s passion for music was infectious and Vu caught the bug as a young child.

“I was always really interested in music more than anything,” said Vu, “except for maybe basketball. But then at some point my dad said ‘You’re too short.’ And at that point then I started to focus on music.”

Vu grew up listening a diverse range of music, including Vietnamese pop and Western classic rock like Abba and Pat Metheny, with whom he later collaborated on two Grammy-winning albums. He said that his multi-cultural background has merged so deeply that he can no longer determine from where his music stems: “Of course, my background influences my stuff, but I don’t know in what ways because it’s so absorbed.”

As a student at Bellevue High School, his musical talent and leadership skills were present at an early age. His mother remembers one incident in particular. “One time in his senior year, I had the chance to talk to the band director, Mr. Jones,” said Nikki. “He told me, ‘I learn a lot from Cuong’ – I’ll never forget that.”

Vu graduated from high school in 1988 with a full scholarship to the New England Conservatory of Music in Boston. After earning his Bachelor of Music in Jazz Studies, he moved to New York City in 1994, where he achieved critical success. During his time in the city, he toured often and worked with artists such as Metheny, Laurie Anderson, David Bowie, Mitchell Froom and Chris Speed.

A return to roots

After 13 years in the Big Apple, Vu decided to return to the Northwest in 2006.

“I got tired of living in New York after 15 years,” he said. “While I was touring all over the place, I started to really take notice of the various cities and nothing suited me as much as Seattle. So when the opportunity came to move back, it was a no-brainer.”

He was touring in Europe when he learned of the assistant jazz professor position at the university and joined the faculty in 2007, marking a change in direction for the music program.

Mark Seales is a professor of jazz studies at the University of Washington and a part of the team that selected Vu from among a hundred candidates.

“He had a lot of experience that looked good on paper,” said Seales. But, ultimately, it was Vu’s personality and vision for the future of the program that won him the job.

“When he taught, he was very focused and charismatic and he had a different approach — very forward thinking, very demanding,” said Seales. “We needed somebody who’s going to bring a certain sort of vision for the future and he fit perfectly.”

Students responded immediately to Vu. In 2010, the university awarded him a UW Distinguished Teaching Award. “[The students] were the ones who nominated him,” said Seales, “and they responded outrageously.”

Teaching the building blocks

Vu currently teaches a full load of classes. During a recent jazz ensemble class, a small group of students sat in a semi-circle in a UW auditorium. The topic of the day was a new piece: Duke Ellington and Billy Strayhorn’s Isfahan. As they played, Vu paced behind them – wearing socks but no shoes – and occasionally leaning in to whisper a suggestion in the ear of a musician.

“Why did that sounds so much better this time?” he asked. His tone was encouraging but intense. “Everyone should have the power to stop the band and say something! Let’s try it again.”

Vu’s style is to simulate the real world as much as possible and he pushes his students to behave like the professionals they soon will be. Classes are structured in the same way a professional band might rehearse: The students choose their music, develop it and lead it in their own way.

“I go into everything intuitively,” he said of his teaching style. “Pretty much how I approach music is trying to be in the moment and really feeling out other people and how they approach music and life … and then go from there.”

But he also emphasizes the structure of music. He begins with a conceptual base and then allows students to improvise more freely.

“A lot of what I do is filtered through free improvisation, collective free improvisation,” said Vu. “When [the students] do that, then they really have to draw on their instincts and really find out the building blocks of music and so that really wipes out all of the lines that divide genres.”
A distinguished teacher

According to University of Washington senior Scott Macpherson, Vu is “entirely responsible for this huge change that’s happened here in the past two or three years.”

Though only in his third year as a professor, Vu is highly regarded by his students.

“He’s an incredibly dedicated and effective teacher who, at the same time, is a perfect model for everything that he tries to impart to his students,” said senior Ivan Arteaga. “He’s always learning and adapting how he’s teaching, based on the people he’s teaching.”

For some students, Vu seemed initially inaccessible. “He’s such a fierce professional,” said senior Scott Macpherson. “For some of us it was kind of intimidating.” But Macpherson has nothing but rave reviews for the young professor. “Every day, he brings the same intensity with him and the same expectations. He’ll get frustrated with us, but he’ll never give up.”

For Vu, his relationship with his students and the music they create enrich his own life as a musician. “These students are really bright,” he said. “They’re really adventurous, they’re fearless, so whenever I present them with a new idea, it doesn’t take a lot of time for them to absorb and then bring it back in a whole different form – and then I’m starting to learn something.”

“Creativity sparks everything else”

Vu recognizes that the music his students produce doesn’t always sound like jazz – and that is his intention. “A lot of people kind of want jazz to stay the same, but we’re not living in the ‘40s anymore.”
He encourages his students to introduce their own influences, be it Rihanna or Stravinsky, into the music they create.

“Jazz is a constantly evolving art form, which means it absorbs and is informed by all other music that is around,” said Vu. “So whatever the musician is checking out, that is going to become a part of jazz.”
His hope for the future is that his students will be pioneers for this evolving form of jazz, especially in Seattle.

“We have to, as a society, start taking notice of what young people are doing and … we need to support it,” he said. “Creativity really spawns everything else – I just want people to start taking notice and help.”
His philosophy includes maintaining relationships with his students after they leave the university. “I expect them to work hard,” he said, “so, once they get out in the world, I feel like I owe it to them to continue to help them as much as I can.”

His students have recognized this. “He’s embracing all of his students as musicians as they come up,” said Arteaga. “He’ll really just go to town for his students … and use the means that he has to successfully fuel our own careers and music community that’s being built here.”

Despite his enthusiasm, Vu struggles to balance life as both a professor and a musician. “It’s hard,” he said of his schedule, “I don’t get a break.”

Though he was ready for the transition to academia, he misses his life as a touring musician: “Musicians have to perform. They really need that connection of people reacting to them.”

For Vu, that means continuing to perform when he can; he has plans for a summer European tour and he frequently participates in Sunday jam sessions at Café Racer.

But, his passion for his students sees him through the difficult days. “They’re the next generation of artists,” he said. “They have something different to say and that’s interesting to me.” When asked if he could impart one piece of wisdom to them, Vu took a moment to reflect, then said: “Everything’s going to be OK. Enjoy the moment.”

With Vu at the helm, that won’t be hard to do.

By AISLYN GREENE for Northwest Vietnamese News
UW News Lab

Vietnamese participate in local of the Vagina Monologues all-Asian cast
Tuesday, April 27th, 2010

In celebration of V-Day Seattle 2010, which is this Saturday, April 17th, Eve Ensler’s famous Vagina Monologues will be performing right here in Seattle at the Filipino Community Center. Vagina Monologues have been performed all over the country to help stop violence against women and girls. All proceeds from this Saturday’s show will benefit the Asian Pacific Islander Women & Family Safety Center, a non-profit organization that helps victims of sexual abuse, human trafficking and domestic violence. After having been invited to perform in the Vagina Monologues by one of the Advisory Committee members of the Vietnamese Friendship Association’s CARE project, I was immediately excited, but I was also a little hesitant.

Having been born and raised in the United States by a hard-working and traditional Vietnamese mother, any explicit subject, for example vaginas, were never mentioned in my home. I believe that it is part of our Vietnamese culture to keep these things private and to ourselves, instead of speaking about it freely and openly like we often might do in the American culture. I know that Vagina Monologues is not only famous, but it is also for a great cause.

However, I was still uncomfortable about performing because I was brought up to not discuss these types of things in public. After reflecting for a while, I decided to give it a shot. I needed and wanted to step outside of my comfort zone. By doing so, I would not only explore new things, but I would also learn from others’ stories and experiences.

So far, I have had a great experience reading over the monologues with the wonderful ladies that will be performing! I think that it is important for everyone, especially Vietnamese people, to be open and aware of issues such as violence against women. From my own experience, I know that stepping outside the boundaries of comfort that the Vietnamese culture has set for us is a difficult task, but it is something that is not only beneficial for us today, but for our future.

Attending the Vagina Monologues is a great step towards exploring outside of our comfort zone. Come enjoy the show featuring award-winning actresses Jennifer Paz (“Miss Saigon”), Tamlyn Tomita (“Karate Kid II”), and a cast of wonderful and strong local-women!

Verlina Vu




Home
About Us
Staff
History
Location
Contact
Distribution Spots
Commercial
News
Tin Cộng Đồng (Community News)
Tin Địa Phương (Local News)
Tin Hoa Kỳ (National News)
Tin Thế Giới (World News)
Bình Luận (Editorial)
Kể Chuyện Quảng Đời Tôi (My Life)
Hương Vị Mỹ Việt (Food Column)
Người Việt Next (English)
New America Media
Sinh hoạt cộng đồng (Calendar)
Văn học Nghệ Thuật (Arts)
SBTN
Current SBTN and Rates
SBTN TV Schedule
SBTN
Seattle News Clips
English
Advertising:
Ad Sizes
Distribution Area
Publication Details
Online Advertising
Contact Ad Reps
Classifieds Placement Form
Current Classified Ads
Calendar
Special Editions:
2010:
Links
Downloads
Latest Classifieds
Latest Tuesday Issue
Tuesday Cover
Friday Cover